Giải thích phạm giới Trộm cắp

Giải thích phạm giới Trộm cắp_maithengoc.com

Giải thích phạm giới Trộm cắp

Điều Giới Trộm Cắp

Điều giới trộm cắp liên quan đến của cải tài sản của người khác, có 2 loại nghiệp:

–    Người giữ gìn điều giới tránh xa sự trộm cắp, không trộm cắp, tạo dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp.

–    Người phạm điều giới trộm cắp của cải tài sản của người khác, tạo ác nghiệp trộm cắp.

Quả của đại thiện nghiệp không trộm cắp với quả của ác nghiệp trộm cắp là hoàn toàn trái ngược lẫn nhau.

Giải thích phạm giới Trộm cắp_maithengoc.com

Quả Báu Của Đại Thiện Nghiệp Của Người Không Trộm Cắp

Người nào giữ gìn ngũ giới trong sạch và trọn vẹn, trong đó có điều giới “có tác ý tránh xa sự trộm cắp”.

–  Sau khi người ấy chết, dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp ấy có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau trở lại làm người trong cõi người này.

– Hoặc sau khi người ấy chết, dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp ấy có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau làm vị thiên nam hoặc thiên nữ trong cõi trời dục giới, hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời ấy cho đến hết tuổi thọ.

Sau khi vị chư thiên chết tại cõi trời ấy, nếu trường hợp dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người trong cõi người này.

Thì cả hai trường hợp này, người ấy sẽ có được quả báu tốt của dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp trong kiếp quá khứ của người ấy, đáng hài lòng.

Trong Chú giải Khuddakapātha giảng giải về 11 quả báu của dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp trong kiếp quá khứ như sau:

Kiếp hiện tại của người ấy

1 – là người có nhiều của cải quý giá, giàu sang.

2 – có đầy đủ của cải, tài sản như lúa gạo, vàng bạc, châu báu,…

3 – là người có nhiều của cải, tài sản lớn lao, giàu sang phú quý, tiêu dùng không sao hết được.

4 – nếu chưa có thứ của cải nào thì sẽ có thứ của cải ấy.

5 – đã có những thứ của cải quý giá nào như vàng bạc, ngọc ngà, châu báu,… rồi, thì những thứ của cải quý giá ấy được giữ gìn duy trì bền vững lâu dài.

6 – mong muốn những thứ của cải quý giá nào, thì chắc chắn mau chóng thành tựu như ý.

7 – có được những thứ của cải, tài sản lớn lao mà không bị thiệt hại do lửa thiêu cháy, không do nước lũ cuốn trôi, không do kẻ trộm cướp chiếm đoạt, không do nhà Vua tịch thu, không do người không ưa thích chiếm đoạt.

8 – khi đã có của cải tài sản rồi, chính mình là người sở hữu của cải tài sản ấy, không có liên quan với người khác.

9 – là người có khả năng chứng đắc được pháp siêu tam giới (4 Thánh đạo, 4 Thánh quả, Niết bàn).

10 – là người không thường nghe đến danh từ “không có”, bởi vì muốn thứ nào thì có ngay thứ ấy.

11 – là người sống được an lạc.

Đó là 11 quả báu tốt của dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp mà tiền kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá khứ.

Quả Xấu Của Ác Nghiệp Của Người Phạm Điều Giới Trộm Cắp

Người nào phạm điều giới trộm cắp lấy trộm của cải tài sản của người khác dù ít dù nhiều cũng tạo ác nghiệp trộm cắp.

–   Nếu có ác nghiệp trộm cắp nặng, thì sau khi người ấy chết, ác nghiệp trộm cắp ấy có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau trong cõi ác giới, chịu quả khổ của ác nghiệp ấy cho đến khi mãn quả của ác nghiệp ấy, mới thoát khỏi được cõi ác giới.

Sau khi thoát khỏi cõi ác giới, trường hợp nếu có dục giới đại thiện nghiệp nào khác có cơ hội cho quả thì tái sinh kiếp sau trở lại làm người.

–   Và trường hợp, nếu người nào phạm điều giới trộm cắp, tạo ác nghiệp trộm cắp nhẹ, người ấy sau khi chết, ác nghiệp trộm cắp nhẹ ấy không có cơ hội cho quả tái sinh, mà dục  giới đại thiện nghiệp nào khác có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau trở lại làm người.

Thì cả hai trường hợp này, người ấy còn phải chịu quả xấu của ác nghiệp trộm cắp trong kiếp quá khứ của người ấy.

Quả xấu của ác-nghiệp trộm cắp có 11 quả xấu là hoàn toàn trái ngược với quả tốt của đại thiện nghiệp không trộm cắp như sau:

Kiếp hiện tại của người ấy

1 – là người không thể có những thứ của cải quý giá.

2 – là người thiếu thốn những nhu yếu phẩm như lúa gạo, tiền bạc, đồ dùng, v.v…

3 – là người nghèo khổ túng thiếu của cải.

4 – là người không phát triển được những thứ của cải.

5 – là người khi làm ra được của cải quý giá, thì không giữ gìn được lâu dài.

6 – là người không thể có được thứ của cải mà mình mong muốn.

7 – là người khi có được của cải, thì thường bị thiệt hại do lửa thiêu cháy, do nước lũ cuốn trôi, do kẻ trộm chiếm đoạt, do nhà nước tịch thu, v.v…

8 – là người có được của cải thì cũng liên quan đến nhiều người, không riêng cho mình được.

9 – là người khó chứng đắc được 9 pháp siêu tam giới (4 Thánh đạo, 4 Thánh quả, Niết bàn).

10 – là người thường nghe đến danh từ “không có”.

11 – là người sống không được an lạc.

Đó là 11 quả xấu của ác nghiệp trộm cắp mà tiền kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá khứ.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Giảng giải tránh xa sự Trộm cắp

Giảng giải tránh xa sự Trộm cắp_maithengoc.com

Giảng giải tránh xa sự Trộm cắp

Băng nghe tránh xa sự Trộm cắp

Điều giới tránh xa sự Trộm cắp

Người lấy, chiếm đoạt của cải, tài sản mà người chủ không cho, bằng cách trộm cắp, cướp giật, lường gạt, đánh tráo, lừa dối, v.v… đều bị phạm điều giới trộm cắp.

Adinnādānā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Nghĩa phân tích chữ:

–   Adinnādānā: Adinna + ādānā

–   Adinna: Của cải, tài sản mà chủ nhân không cho, chủ nhân giữ gìn.

–   Ādānā: Lấy, chiếm đoạt.

–   Veramaṇisikkhāpadaṃ: Veramaṇī + sikkhāpadaṃ

–   Veramaṇī: Tác-ý tránh xa.

–   Sikkhāpadaṃ: Điều giới, giới.

–   Samādiyāmi: Con xin thọ trì.

Adinnādānā: Lấy, chiếm đoạt của cải, tài sản mà chủ nhân không cho phép hoặc chủ nhân đang giữ gìn.

Nghĩa toàn câu:

Con xin thọ trì điều giới, có tác ý tránh xa sự trộm cắp.

Chi Pháp Phạm Điều Giới Trộm Cắp

Người phạm điều giới trộm cắp khi hợp đủ 5 chi pháp:

1- Của cải có chủ giữ gìn (parapariggahitaṃ).

2- Biết rõ của cải có chủ giữ gìn (parapariggahitasaññitā).

3- Tâm nghĩ trộm cắp (theyyacittaṃ).

4- Cố gắng trộm cắp (payogo).

5- Lấy được của cải ấy do sự cố gắng (avahāro).

Nếu người nào có đầy đủ 5 chi pháp này thì người ấy phạm điều giới trộm cắp. Nếu không đủ 5 chi pháp thì không phạm điều giới trộm cắp.

Giảng giải tránh xa sự Trộm cắp_maithengoc.com

Giảng Giải Về Điều Giới Trộm Cắp

Của cải: Đó là các thứ tài sản tiền của, vàng bạc châu báu, …; các thú vật như voi, ngựa, trâu, bò, …; các thứ sở hữu trí tuệ, … là những thứ của cải giá trị có chủ.

Tác Ý Bất Thiện Tâm Trộm Cắp Có 2 Cách:

Bằng thân: tự mình chiếm đoạt của cải người khác.

Bằng khẩu: dùng lời nói lường gạt, hoặc sai khiến người chiếm đoạt của cải người khác đem về cho mình.

Cố gắng trộm cắp có 6 cách:

1- Do chính mình trộm cắp của cải người khác.

2- Sai khiến người trộm cắp của cải người khác.

3- Ném hàng hóa, đồ đạc qua các trạm thu thuế, cửa khẩu,… để trốn thuế.

4- Sai khiến người rằng: “Chờ có cơ hội hãy trộm cắp của cải ấy” không hạn định thời gian.

5- Dùng bùa chú, thuốc mê làm cho người chủ mê muội, rồi chiếm đoạt của cải.

6- Dùng thần thông lấy nước hồ để uống (trường hợp vị sa di xin nước hồ để uống, Long vương giữ hồ không cho; vị sa di này dùng thần thông bay lên hư không, rồi đáp xuống hồ, để lấy nước hồ uống).

Trường hợp này không gọi là trộm cắp, vì người chủ là Long vương giữ hồ, và lượng nước hao tốn không đáng kể.

Ác Nghiệp Nặng – Nhẹ Của Điều Giới Trộm Cắp

Ác nghiệp nặng hoặc ác nghiệp nhẹ của điều giới trộm cắp được căn cứ vào giá trị của cải, tài sản nhiều hoặc ít; và căn cứ vào chủ nhân có giới đức hoặc không có giới đức.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản có giá trị nhiều thì ác nghiệp nặng.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản có giá trị ít thì ác nghiệp nhẹ.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản của bậc xuất gia sa di, tỳ khưu thì ác nghiệp nặng.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản của người tại gia cư sĩ thì ác nghiệp nhẹ.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản của cá nhân thì ác nghiệp nhẹ.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản của chung, của nhà nước thì ác nghiệp nặng.

– Nếu người trộm cắp tài sản của bậc Thánh nhân thì ác nghiệp nặng.

– Nếu người trộm cắp tài sản của hạng phàm nhân thì ác nghiệp nhẹ.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản của chư Đại đức tỳ khưu Tăng thì ác nghiệp nặng hơn cả.

25 Cách Trộm Cắp

25 cách trộm cắp được chia ra làm 5 phần, mỗi phần có 5 cách.

1- Nānābhaṇḍa pañcaka: Trộm cắp các của cải, tài sản nhiều loại có 5 cách:

1.1- Ādiyana adinnādāna: Một người muốn chiếm đoạt của cải, tài sản như đất đai, nhà cửa,… của người khác, bằng cách thưa kiện ra tòa.

Trường hợp này người có mưu đồ chiếm đoạt tài sản của người chủ mà không liên quan đến nợ nần, tài sản thế chấp, mà đó chỉ là mưu đồ muốn làm chủ đất đai tài sản hoặc nhà cửa người khác.

Việc ra tòa xét xử lâu ngày, khiến cho người chủ nản lòng, có ý nghĩ buông bỏ tài sản ấy rằng:

“Tài sản của ta, chắc chắn sẽ thuộc về của người khác rồi”.

Như vậy, người có mưu đồ chiếm đoạt của cải, tài sản (đất đai, nhà cửa,…) của người khác hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

1.2- Haraṇa adinnādāna: Một người làm thuê mang của cải người khác đến một nơi đã định. Trong khi đang mang của cải đi trên đường, người ấy phát sinh tâm tham, muốn chiếm đoạt làm của mình. Khi tâm nghĩ trộm cắp phát sinh, người ấy chỉ cần di chuyển của cải ấy rời khỏi chỗ cũ chút đỉnh, ví dụ như từ vai phải sang vai trái, hoặc từ tay phải sang tay trái.

Như vậy, người làm thuê mang của cải ấy hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

1.3- Avaharaṇa adinnādāna: Ông A nhận giữ hộ của cải của ông B; về sau, ông B đến gặp ông A xin lấy lại những thứ của cải mà trước đây ông B đã gửi gắm nhờ ông A giữ hộ. Ông A có tâm tham muốn chiếm đoạt của cải của ông B, nên ông A đã phủ nhận rằng:

“Tôi chưa bao giờ nhận giữ hộ của cải của ông”.

Khi ông B, người chủ của cải không còn hy vọng lấy lại của cải của mình, và nghĩ rằng:

“Của cải mà ta đem gởi cho ông A giữ hộ trước kia, bây giờ xem như đã mất rồi”.

Như vậy, ông A nhận giữ hộ  của  cải  của ông B, rồi chiếm đoạt của cải ấy, ông A hội đủ  5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

1.4- Iriyāpatha vikopana adinnādāna: Chủ nhân đang ngồi hoặc đang nằm, hoặc đang đứng,… tại nơi của cải, tài sản của mình. Người trộm cướp muốn chiếm đoạt số của cải, tài sản ấy, nên đã hăm dọa người chủ nhân phải rời khỏi nơi ấy, để y chiếm đoạt của cải ấy.

Khi bắt buộc chủ nhân phải rời khỏi nơi ấy, dù 1 – 2 bước, thì người trộm cướp ấy hội đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

1.5- Ṭhānācāvana adinnādāna: Các báu vật mà chủ nhân đặt để một nơi, kẻ trộm cướp nhìn thấy, phát sinh tâm tham, muốn trộm cắp báu vật ấy.

Kẻ ấy chỉ cần di chuyển báu vật ấy rời khỏi vị trí chỗ cũ chút ít, thì kẻ ấy hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

2- Ekabhanda pañcaka: Trộm cắp những sinh vật có sinh mạng, có 5 cách:

2.1- Ādiyana adinnādāna: Người muốn chiếm đoạt những sinh vật có sinh mạng như các loài gia súc của người khác, bằng cách thưa kiện.

Đến khi chủ nhân của các loài gia súc kia nản lòng buông bỏ và nghĩ rằng:

“Đàn gia súc của ta chắc chắn sẽ thuộc về người khác”.

Như vậy, người chiếm đoạt hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

2.2- Haraṇa adinnādāna: Một người làm thuê dắt con bò đi đến một nơi đã định. Trên đường đi, người ấy phát sinh tâm tham, muốn chiếm đoạt con bò ấy trở thành của mình.

Sau khi suy nghĩ xong, người ấy chỉ cần dắt bò đi theo con đường khác hoặc có ý trao từ tay này sang tay khác.

Như vậy, người làm thuê ấy đã hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

2.3- Avaharaṇa adinnādāna: Ông A nhận giữ hộ con bò của ông B. Về sau, ông B đến gặp ông A xin nhận lại con bò mà trước đây ông đã nhờ ông A giữ hộ, nhưng ông A có tâm tham, muốn chiếm đoạt con bò của ông B, nên ông A đã phủ nhận rằng:

“Tôi chưa bao giờ nhận giữ hộ con bò của ông”.

Khi ông B không còn hy vọng nhận lại con bò của mình được nữa, thì nghĩ rằng:

“Chắc chắn ta không thể lấy lại con bò được”.

Như vậy, ông A đã nhận giữ hộ con bò mà không chịu trả lại, hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

2.4- Iriyāpatha vikopana adinnādāna: Người, hoặc trâu, bò,… đang đi, đứng, nằm, tại một địa điểm nào đó; người có tâm tham muốn bắt cóc người để vụ lợi, hoặc bắt trộm trâu, bò dắt đi bán.

Khi người, hoặc trâu, bò chỉ cần bị di chuyển 1 – 2 bước khỏi nơi ấy mà thôi, người ấy đã hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

2.5- Ṭhānācāvana adinnādāna: Chủ nhân đang nhốt trâu, bò ở trong chuồng. Người có tâm tham, muốn dắt trộm trâu, bò ra khỏi chuồng.

Khi trâu, bò bị dắt ra khỏi chuồng 1 – 2 bước mà thôi, là người ấy đã hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

3- Sahatthika pañcaka: Chính tự mình trộm cắp, có 5 cách:

3.1- Sahatthika adinnādāna: Chính tự mình trộm cắp của cải, tài sản của người khác.

Như vậy, người ấy hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

3.2- Āṇattika adinnādāna: Sai khiến người khác đi trộm cắp của cải, tài sản của người khác. Và người bị sai đi đã trộm cắp của cải, tài sản ấy.

Như vậy, người sai khiến hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp, và người bị sai cũng phạm điều giới trộm cắp.

3.3- Nissaggiya adinnādāna: Giấu hàng hóa để trốn thuế.

Như vậy, người giấu hàng hóa ấy hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

3.4- Atthasādhaka adinnādāna: Người ra lệnh cho nhóm thuộc hạ tay sai đi trộm-cắp của cải của người khác, nếu khi có cơ hội, không hạn định thời gian. Và nhóm thuộc hạ đã đi trộm cắp của cải ấy.

Như vậy, người ra lệnh phạm điều giới trộm cắp, và nhóm thuộc hạ cũng phạm điều giới trộm cắp.

3.5- Dhuranikkhepa adinnādāna: Người vay mượn tiền của người khác, hoặc nhận lãnh cất giữ tài sản của cải của người khác. Khi người chủ nhân đến đòi nợ, hoặc xin nhận lại tài sản của cải đã gửi gắm. Người vay mượn (con nợ) hoặc người nhận lãnh cất giữ của cải từ chối rằng:

“Tôi không hề vay mượn tiền của của ông, hoặc tôi không hề nhận lãnh cất giữ tài sản của cải cho ông”.

Người chủ nhân quyết định buông bỏ rằng:

“Tiền của, hoặc tài sản của cải của ta chắc chắn đã bị người ấy chiếm đoạt rồi”.

Ngay khi ấy, người vay mượn tiền của, hoặc người nhận lãnh cất giữ của cải mà không trả lại, hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

4 – Pubbapayoya pañcaka: Phạm điều giới trộm cắp trước khi lấy trộm tài sản, của cải của người khác, có 5 cách:

4.1 – Pubbapayoya adinnādāna: Người ra lệnh cho người khác đi trộm cắp rằng:

“Bằng mọi cách ngươi phải trộm-cắp cho được của cải ấy”.

Khi ra lệnh xong, người ấy phạm điều giới trộm cắp ngay khi ấy.

4.2 – Sahapayoya adinnādāna: Người nào phát sinh tâm trộm cắp tài sản, của cải của người khác, đồng thời cố gắng di chuyển tài sản, của cải ra khỏi chỗ cũ. Người ấy phạm điều giới trộm cắp.

Người nào phát sinh tâm gian lận, lấn chiếm đất đai của người khác, đồng thời cố gắng dời cột mốc ranh giới sang phần đất của người bên cạnh. Người ấy phạm điều giới trộm cắp.

4.3 – Saṃvidāvahāra adinnādāna: Một nhóm người (từ 2 người trở lên) hợp thành nhóm cùng nhau đi trộm cướp. Trong nhóm người ấy, nếu có một người nào trộm cướp được của cải, tài sản của người khác, thì cả nhóm người ấy đều phạm điều giới trộm cắp.

4.4 – Saṅketakamma adinnādāna: Người sai khiến bọn thuộc hạ đi trộm cắp, có quy định thời gian rõ ràng, ví dụ vào lúc nửa đêm 24 giờ chẳng hạn.

–   Nếu bọn thuộc hạ thực hiện hành động trộm cắp đúng theo giờ quy định (24 giờ), thì người sai khiến phạm điều giới trộm cắp, và bọn thuộc hạ cũng phạm điều giới trộm cắp.

Nếu bọn thuộc hạ thực hiện hành động trộm cắp vào lúc thời gian sớm hoặc muộn hơn thời gian quy định (trước hoặc sau 24 giờ) thì người sai khiến không phạm điều giới trộm cắp, chỉ có bọn thuộc hạ phạm điều giới trộm cắp mà thôi.

4.5- Nimittakamma adinnādāna: Người sai khiến bọn thuộc hạ đi trộm cắp, theo hiệu lệnh như vỗ tay, huýt gió… để thực hiện hành động trộm-cắp.

–   Nếu bọn thuộc hạ thực hiện hành động trộm cắp đúng theo hiệu lệnh, thì người sai khiến phạm điều giới trộm cắp, và bọn thuộc hạ cũng phạm điều giới trộm cắp.

–   Nếu bọn thuộc hạ thực hiện hành động trộm cắp mà không theo hiệu lệnh đã quy định, thì người sai khiến không phạm điều giới trộm cắp, chỉ có bọn thuộc hạ phạm điều giới trộm cắp mà thôi.

5- Theyyāvahāra pañcaka: Trộm cắp bằng cách lừa bịp, có 5 cách:

5.1- Theyyāvahāra adinnādāna: Người bán hàng cân hàng hóa thiếu, bán đồ giả, buôn bán hàng lậu, trốn thuế,… người ấy phạm điều giới trộm cắp.

5.2- Pasayhāra adinnādāna: Người dùng vũ khí (súng, dao,…) để hăm dọa người khác, bắt buộc người khác phải trao của cải, vàng bạc,… Người ấy phạm điều giới trộm cắp.

5.3- Parikappāvahāra adinnādāna: Người muốn trộm cắp một thứ nào đó, dù đã được thứ ấy, hoặc được một thứ nào khác, mà vẫn hài lòng, thì người ấy phạm điều giới trộm cắp.

5.4- Paṭicchannāvahāra adinnādāna: Một người vào nhà người khác nhìn thấy món đồ quý giá (nhẫn kim cương, hột xoàn, v.v…) mà người chủ để trên bàn. Người ấy phát sinh tâm tham, muốn chiếm đoạt món đồ ấy trở thành của mình, nên đã lấy món đồ ấy đem giấu kín một nơi khác, chờ cơ hội người chủ đi khỏi nơi đó, mới lấy món đồ ấy đem đi.

Trong khi lấy món đồ ấy đem giấu kín một nơi, người ấy chưa phạm điều giới trộm cắp.

Đến khi người chủ tìm không thấy món đồ của mình, do công việc gấp phải đi khỏi nơi đó và có ý định sau khi xong công việc sẽ trở lại tìm kỹ hơn.

Khi người chủ rời khỏi nơi đó rồi, người trộm cắp lấy món đồ ấy, người ấy phạm điều giới trộm cắp.

5.5- Kusāvahāra adinnādāna: Trộm cắp lấy món đồ quý giá của người khác rồi thay thế vào đó món đồ không giá trị của mình.

Ví dụ: Một người lấy chiếc đồng hồ đắt giá của người khác, rồi thay thế vào đó một chiếc đồng hồ xấu, rẻ tiền của mình; hoặc có hai gói quà, một gói có tên của mình và một gói là tên của người khác, người ấy nhìn thấy gói quà có tên của người khác gồm các món đồ quý giá,  còn gói quà có tên của mình gồm các món đồ tầm thường, nên người ấy liền bóc miếng giấy ghi tên của mình gắn vào gói quà của người khác, và bóc miếng giấy ghi tên của người khác gắn vào gói quà của mình, v.v…

Người có tâm tham thay đổi món đồ xấu lấy đồ tốt, hoặc thay đổi tên của mình thế vào chỗ tên của người khác,… người ấy phạm điều giới trộm cắp.

Phạm Điều Giới – Không Phạm Điều Giới Trộm Cắp

Để biết có phạm điều giới trộm cắp hay không phạm điều giới trộm cắp thì căn cứ vào tác ý (cetanā).

–   Nếu người có tác ý trong bất thiện tâm hợp đủ 5 chi pháp của điều giới trộm cắp thì phạm điều giới trộm cắp. Nếu có tác ý trong bất thiện tâm mà không đủ chi-pháp của điều giới trộm cắp thì không phạm điều giới trộm cắp.

Ví dụ: Nhìn thấy con mèo cắn chết con gà của người khác, người ấy bắt buộc con mèo thả con gà ra để cho y ăn thịt.

Vậy, người ấy đã phạm điều giới trộm cắp.

Nhưng khi nhìn thấy con mèo bắt con gà còn sống, người ấy bắt buộc con mèo thả con gà ra, để cứu mạng con gà, không cho con mèo ăn thịt con gà.

Vậy, người ấy không phạm điều giới trộm cắp, mà còn tạo được phước thiện cứu mạng.

Trường hợp ông Bà-la-môn Doṇa là người đứng ra làm trung gian phân chia Xá lợi của Đức Phật Gotama cho các nước lớn; Đức vua mỗi nước thỉnh Xá lợi Phật đem về, rồi tạo ngôi Bảo tháp để tôn thờ Xá lợi Đức Phật.

Trong khi phân chia Xá lợi Đức Phật, ông Bà la môn Doṇa thỉnh ‘Xá lợi Răng nhọn’ giấu kín trên đầu tóc của mình, để tôn thờ.

Đức vua trời Sakka trên cõi trời Tam thập tam thiên nhìn thấy, suy xét rằng:

“Ông Bà la môn Doṇa không thể có một ngôi Bảo tháp xứng đáng để tôn thờ Xá lợi Răng nhọn của Đức Phật. Ta nên hiện xuống thỉnh Xá lợi Răng nhọn về cõi trời này”.

Suy nghĩ xong, Đức vua trời Sakka hiện xuống cõi người, thỉnh ‘Xá-lợi Răng nhọn’ từ trên đầu tóc của ông Bà la môn Doṇa, mà ông chẳng hề hay biết. Đức vua trời Sakka thỉnh về tôn thờ trong ngôi Bảo tháp Cūḷāmaṇī tại cung trời Tam thập tam thiên, để cho toàn thể chư thiên lễ bái cúng dường.

Như vậy, Đức vua trời Sakka không phạm điều giới trộm cắp, bởi vì Đức vua trời là bậc Thánh Nhập lưu có tác ý tâm sở đồng sinh với đại thiện tâm cung kính, có giới đức hoàn toàn trong sạch trọn vẹn, nên chỉ có nhiều phước  thiện cung kính mà thôi.

Như vậy, người phạm điều giới trộm cắp hay không phạm điều giới trộm cắp do căn cứ vào tác ý (cetanā) là chính. Nếu người có tác ý tâm sở đồng sinh với bất thiện tâm, rồi tạo ác nghiệp trộm cắp do thân hoặc khẩu thì phạm điều giới trộm cắp; nhưng nếu người có tác ý tâm sở đồng sinh với đại thiện tâm, rồi tạo đại thiện nghiệp do thân hoặc khẩu thì không phạm điều giới, mà chỉ tạo đại thiện nghiệp mà thôi.

Cho nên, để biết người nào có phạm điều giới hoặc không phạm điều giới, thì nên hỏi rõ người ấy có tác ý như thế nào, rồi mới quyết định phạm điều giới hay không phạm.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Giảng giải tránh xa sự Sát sinh

Giang giai tranh xa su Sat sinh maithengoc.com

Giảng giải tránh xa sự Sát sinh

Băng nghe tránh xa sự Sát sinh

Điều Giới Tránh Xa Sự Sát Sinh

Thật ra, tất cả chúng sinh đều chết cả thảy, không ngoại trừ một ai cả. Mỗi chúng sinh chết do hết tuổi thọ, do mãn nghiệp hỗ trợ, do hết  tuổi thọ và mãn nghiệp hỗ trợ, đó gọi là chết đúng thời (kālamaraṇa).

Pāṇātipātā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Nghĩa từng chữ:

–   Pāṇātipātā: Pāṇā + atipātā.

–   Pāṇā: Chúng sinh, tất cả mọi chúng sinh lớn nhỏ có sinh mạng.

–   Atipātā: Rơi mau, lìa mau.

–   Veramaṇisikkhāpadaṃ: Veramaṇī + sikkhāpadaṃ.

–   Veramaṇī: Tác ý tránh xa.

–   Sikkhāpadaṃ: Điều giới, giới.

–   Samādiyāmi: Con xin thọ trì.

–   Pāṇātipātā: Hành động làm cho chúng sinh lìa bỏ sinh mạng trước thời gian hạn định hết tuổi thọ của chúng sinh ấy, nghĩa là giết hại chúng sinh ấy chết trước thời gian hạn định tuổi thọ của chúng sinh ấy.

Trường hợp chúng sinh có thể duy trì, kéo dài sinh mạng thêm cho đến hết tuổi thọ, đến mãn nghiệp hỗ trợ… nhưng chúng sinh ấy bị người khác giết hại, cắt đứt dòng sinh mạng  trước  thời gian hạn định tuổi thọ của chúng sinh ấy, gọi là pāṇātipātā: giết hại chúng sinh.

Nếu người nào có tác ý tâm sở đồng sinh với bất thiện tâm giết hại chúng sinh hợp đủ chi pháp của điều giới sát sinh, thì người ấy phạm điều giới sát sinh.

Nghĩa toàn câu:

Con xin thọ trì điều-giới, có tác ý tránh xa sự sát-sinh.

Giảng giải tránh xa sự Sát sinh_maithengoc.com

Chi Pháp Phạm Điều Giới Sát Sinh

Phạm điều giới sát sinh hợp đủ 5 chi pháp:

1- Chúng sinh có sinh mạng (pāṇo).

2- Biết rõ chúng sinh có sinh mạng (pāṇasaññitā).

3- Tâm nghĩ giết hại chúng sinh (vadhakacittaṃ).

4- Cố gắng giết hại chúng sinh (payogo).

5- Chúng sinh ấy chết do sự cố gắng (tena maraṇaṃ).

Nếu người nào có đầy đủ 5 chi pháp này thì người ấy phạm điều giới sát sinh. Nếu không  đủ 5 chi pháp thì không phạm điều giới sát sinh.

Giảng Giải:

Sát hại chúng sinh nghĩa là gì?

Chúng sinh còn có sinh mạng, có nhiều loại chúng sinh khác nhau, dù lớn dù nhỏ mỗi chúng sinh cũng đều có sinh mạng.

Sinh mạng này phát sinh do nghiệp, còn các loài thực vật, cây cỏ, núi non, v.v… đều không có sinh mạng.

Mỗi loài chúng sinh được gọi tên, được biết qua những danh từ chế định thuộc về chế định pháp (paññattidhamma) bằng mỗi danh từ ngôn ngữ, tiếng nói khác nhau, nhưng đúng theo sự  thật chân nghĩa pháp (paramatthasacca), thì chỉ có 3 pháp là tâm, tâm sở, sắc pháp mà thôi.

Danh từ gọi “chúng sinh” còn sinh mạng do căn cứ vào ngũ uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn của mỗi chúng sinh ấy, nhưng đúng theo sự thật chân nghĩa pháp thì chỉ có sắc-pháp (rūpadhamma) và danhpháp (nāmadhamma) mà thôi.

* Sắc uẩn thuộc về sắc pháp đó là phần thân.

* Thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn thuộc về danh pháp đó là phần tâm.

Chúng sinh còn sinh mạng có đủ thân và tâm, trong thân có sắc mạng chủ (jīvitindriyarūpa) và trong tâm có danh mạng chủ (jīvitindriya nāma).

* Sắc mạng chủ (jīvitindriyarūpa) thuộc về sắc pháp có trạng thái sinh rồi diệt liên tục không ngừng, có phận sự bảo hộ, duy trì thân trong mỗi kiếp chúng sinh.

Sắc mạng chủ bị hạn định trong mỗi kiếp chúng sinh, không liên quan với kiếp sau.

* Danh mạng chủ (jīvitindriyacetasika) thuộc về tâm sở đồng sinh với tâm có trạng thái sinh rồi diệt liên tục không ngừng theo các lộ trình  tâm. Danh mạng chủ có phận sự bảo hộ danh pháp (tâm và tâm sở) từ kiếp này sang kiếp khác, từ vô thuỷ trải qua vô số kiếp  quá khứ  đến kiếp hiện tại, dù cho mỗi kiếp thay đổi do năng lực của nghiệp và quả của nghiệp, thì danh mạng chủ vẫn có phận sự bảo hộ danh pháp (tâm và tâm sở) của chúng sinh ấy.

* Nếu chúng sinh ấy chết thì danh mạng chủ đó là tâm sở đồng sinh với tâm rời khỏi thân. Thân không còn sắc mạng chủ, nên thân trở thành thi thể, xác chết.

Như vậy, người sát hại chúng sinh đúng theo sự thật chân nghĩa pháp (paramatthasacca) đó chỉ là cắt đứt sắc mạng chủ (jīvitindriyarūpa) thuộc về sắc pháp của kiếp chúng sinh ấy mà thôi. Còn danh mạng chủ (jīvitindriyacetasika) đồng sinh với tâm có trạng thái sinh rồi diệt liên tục không ngừng, từ kiếp này sang kiếp khác, thay đổi do năng lực nghiệp và quả của nghiệp trong mỗi kiếp, nên danh mạng chủ không thể bị cắt đứt được.

* Thật vậy, Đức Phật ngự đến bên bờ hồ Gaggarā thuyết pháp tế độ dân chúng Campā.

Một con ếch sống dưới hồ Gaggarā nhảy lên nghe giọng phạm âm của Đức Phật. Khi ấy, một người chăn bò đến đứng chống cây lắng nghe pháp, vô ý đụng phải ngay cái đầu con ếch chết tại chỗ.

Sau khi con ếch chết, phước thiện hoan hỷ giọng phạm âm của Đức Phật, đại thiện nghiệp ấy cho quả tái sinh kiếp sau hoá sinh làm vị thiên nam tên Maṇḍūkadevaputta  có hào quang sáng ngời trên cõi trời Tam thập tam thiên, trong lâu đài nguy nga tráng lệ có các thiên nữ hầu hạ, hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời ấy, cho đến khi mãn quả của đại thiện nghiệp ấy.

* Ngài Đại Trưởng lão Mahāmoggallāna bị bọn cướp đánh tan xương nát thịt, chúng tưởng Ngài Đại Trưởng lão đã chết, đem ném Ngài Đại Trưởng lão vào bụi cây, rồi bỏ đi.

Ngài Đại Trưởng lão vận dụng phép thần thông gắn thân thể lại, rồi bay đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin phép tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới.

Như vậy, người sát hại chúng sinh là người cắt đứt sắc mạng chủ thuộc về sắc pháp trong thân của kiếp chúng sinh ấy. Còn danh mạng chủ thuộc về danh pháp vẫn sinh rồi diệt liên tục kiếp kế tiếp, rồi từ kiếp này sang kiếp kia trong vòng tử sinh luân hồi trong 3 giới 4 loài, tuỳ theo nghiệp và quả của nghiệp của mỗi chúng sinh.

Đối với chư bậc Thánh A-ra-hán tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới, nên tất cả mọi thiện nghiệp và mọi ác nghiệp từ vô thuỷ đến kiếp hiện tại đều trở thành vô hiệu quả nghiệp (ahosikamma), bởi vì không còn tái sinh kiếp sau nữa.

Cho nên, khi bậc Thánh A-ra-hán tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới, thì đồng thời danh mạng chủ tâm sở đồng diệt với tâm, chấm dứt phận sự bảo hộ danh pháp (tâm và tâm sở), bởi vì bậc Thánh A- ra-hán không còn tái sinh kiếp sau nữa.

Tác ý ác tâm giết hại chúng sinh có 2 cách

–  Bằng thân: tự chính mình giết hại chúng sinh ấy.

–  Bằng khẩu: sai khiến người khác giết hại chúng sinh ấy.

Cố gắng giết hại chúng sinh có 6 cách:

1-   Tự mình giết hại chúng sinh.

2-   Sai khiến người khác giết hại chúng sinh bằng lời nói, bằng chữ viết, hoặc bằng cách ra hiệu, v.v…

3-   Phóng lao, ném dao, bắn tên, bắn súng, v.v… làm cho chúng sinh ấy chết.

4-   Người làm ra những thứ vũ khí để giết hại chúng sinh có tính cách lâu dài như đào hầm,  đặt bẫy, rèn gươm giáo, đúc súng đạn, bom, thuốc độc, v.v… Hễ khi nào có người sử dụng những thứ vũ khí ấy, thuốc độc ấy để giết hại chúng sinh, thì người tạo ra những thứ vũ khí ấy, thuốc độc ấy phạm điều giới sát sinh, bởi vì, người ấy có tác ý trong ác tâm giết hại chúng sinh có tính cách lâu dài.

5-   Sử dụng bùa chú, phù phép, trù ếm, v.v… làm cho chúng sinh ấy chết.

6-   Sử dụng phép thuật của mình giết hại chúng sinh.

Ác Nghiệp Nặng – Nhẹ Của Điều Giới Sát Sinh

Ác nghiệp nặng hoặc ác nghiệp nhẹ của điều giới sát sinh được căn cứ vào chúng sinh lớn hoặc nhỏ; có giới đức hoặc không có giới đức; giới đức nhiều hoặc giới đức ít, v.v…

*   Chúng Sinh Có Thân Hình Lớn – Nhỏ:

–   Nếu người giết hại chúng sinh có thân hình to lớn như con voi, con trâu, con bò, v.v… thì tạo ác nghiệp nặng, vì phải cố gắng nhiều.

–   Nếu người giết hại chúng sinh có thân hình nhỏ như con kiến, con muỗi, con ruồi, v.v… thì tạo ác nghiệp nhẹ, vì cố gắng ít.

*   Chúng Sinh Có Giới Đức – Không Giới Đức:

–   Nếu người giết hại con người thì tạo ác nghiệp nặng hơn giết hại loài súc vật.

–   Nếu người giết hại người có giới thì tạo ác nghiệp nặng hơn giết hại người không có giới.

–   Nếu người giết hại bậc Thánh nhân, thì tạo ác nghiệp nặng hơn giết hại hạng phàm nhân.

–   Nếu người giết hại Thánh nhân bậc cao thì tạo ác nghiệp nặng hơn giết hại Thánh nhân bậc thấp.

–   Nếu người nào giết bậc Thánh A-ra-hán, giết cha, giết mẹ của mình, thì người ấy tạo ác nghiệp nặng nhất vì thuộc về ác nghiệp vô gián trọng tội (ānantariyakamma).

Sau khi người ấy chết, chắc chắn ác nghiệp vô gián trọng tội ấy cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci, (không có nghiệp nào có thể ngăn cản được), chịu khổ thiêu đốt suốt thời gian lâu dài, cho đến khi mãn quả của ác nghiệp ấy mới mong thoát khỏi cõi địa ngục.

*   Tự Sát

Người tự sát có phạm điều giới sát sinh hay không?

Người phạm điều giới sát sinh hay không phạm điều giới sát sinh cần phải xét theo 5 chi pháp của điều giới sát sinh.

1-   Chúng sinh có sinh mạng (pāṇo)(mình).

2-   Biết rõ chúng sinh có sinh mạng (pāṇa saññitā). (Chi pháp này ám chỉ đến chúng sinh khác, không phải chính mình).

3-   Tâm nghĩ giết hại chúng sinh (vadhakacitta).

4-   Cố gắng giết hại chúng sinh (payogo) (cố gắng tự sát, tự giết mình).

5-   Chúng sinh ấy chết do sự cố gắng ấy (tena maraṇaṃ) (mình chết do sự cố gắng của mình).

Xét thấy trong 5 chi pháp của điều giới sát sinh này, chi pháp thứ nhì “paṇasaññitā”: “biết rõ chúng sinh ấy có sinh mạng” này ám chỉ đến chúng sinh khác, không phải chính mình.

Trong trường hợp người tự giết mình (tự sát) thì thiếu chi pháp paṇasaññitā này. Cho nên, người tự giết mình (tự sát) không đủ 5 chi pháp phạm điều giới sát sinh.

Vậy, người tự sát không phạm điều giới sát sinh.

Ví dụ: Trường hợp Ngài Trưởng lão Channa dùng dao cắt cổ tự sát, trước khi chết Ngài Trưởng lão thực hành pháp hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý tứ Thánh đế, chứng đắc 4 Thánh đạo, 4 Thánh quả, Niết bàn, diệt đoạn tuyệt được mọi tham ái, mọi phiền não không còn dư sót, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, đồng thời tịch diệt Niết bàn, gọi là bậc Thánh A-ra- hán Jīvitasamasīsi (A-ra-hán Thánh quả đồng thời tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới).

Như trong bài kinh Channasutta được tóm lược như sau:

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngự tại ngôi chùa Veḷuvana gần kinh thành Rājagaha. Khi ấy, Ngài Trưởng lão Channa bị lâm bệnh nặng trầm trọng, vô cùng đau đớn không thể kham nhẫn nổi.

Vào buổi chiều, Ngài Đại Trưởng lão Sāri putta và Ngài Trưởng lão Mahācunda đến thăm hỏi bệnh tình của Ngài Trưởng lão Channa.

Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta hỏi rằng:

– Này hiền đệ Channa! Hiền đệ có kham nhẫn nổi thọ khổ không?

Tứ đại của hiền đệ có điều hòa được không?

Thọ khổ của hiền đệ giảm bớt, chứ  không tăng có phải không?

Bệnh tình giảm rõ ràng, chứ không tăng có phải không?

Ngài Trưởng lão Channa thưa rằng:

– Kính thưa Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta, đệ không thể kham nhẫn nổi thọ khổ.

Tứ đại của đệ không điều hòa được.

Thọ khổ của bệnh không thuyên giảm, mà lại tăng lên.

Bệnh tình tăng lên rõ ràng, mà không giảm bớt. Bạch Ngài Đại Trưởng lão.

– Kính thưa Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta:

Ví như một người đàn ông mạnh mẽ dùng cây sắt nhọn bén đâm vào đầu như thế nào, bệnh phong (gió) cực kỳ khủng khiếp đâm xoáy vào đầu của đệ cũng như thế ấy.

Ví như một người đàn ông lực lưỡng dùng sợi dây bằng da dẻo dai, bền chắc, siết chặt cái đầu như thế nào, bệnh phong cực kỳ khủng khiếp siết chặt cái đầu của đệ cũng như thế ấy.

Ví như người giết bò hoặc người phụ của người giết bò, dùng con dao mổ bụng con bò như thế nào, bệnh phong cực kỳ khủng khiếp đâm xoáy vào bụng của đệ cũng như thế ấy.

Ví như hai người đàn ông lực lưỡng, mỗi người một bên nắm tay chân của người ốm yếu đặt lên hầm lửa đang cháy, nướng người ấy nóng bỏng như thế nào, sự nóng trong thân của đệ còn hơn thế ấy.

– Kính thưa Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta, đệ không thể kham nhẫn nổi thọ khổ.

Tứ đại của đệ không điều hòa được.

Thọ khổ của bệnh không thuyên giảm mà lại tăng lên.

Bệnh tình tăng lên rõ ràng, mà không giảm bớt. Bạch Ngài Đại Trưởng-lão.

Ngài Trưởng lão Channa thưa tiếp rằng:

–    Kính thưa Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta, đệ sẽ đem con dao để tự cắt cổ giết hại mình, đệ không còn muốn sống để phải chịu nỗi đau đớn khủng khiếp như thế này nữa.

Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta khuyên rằng:

–    Này hiền đệ Channa! Hiền đệ nên dùng thuốc chữa trị. Hiền đệ dùng thuốc chữa trị để duy trì sinh mạng, chúng tôi muốn hiền đệ dùng thuốc chữa trị để duy trì sinh mạng.

Nếu vật thực không thích hợp với hiền đệ thì tôi sẽ tìm vật thực thích hợp.

Nếu thuốc trị bệnh không thích hợp với hiền đệ thì tôi sẽ tìm thứ thuốc thích hợp.

Nếu người nuôi bệnh không thích hợp với hiền đệ thì tôi sẽ làm người nuôi bệnh lo săn sóc hiền đệ.

Xin hiền đệ chớ nên dùng dao tự sát.

Tiếp theo Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta nhắc nhở Ngài Trưởng lão Channa về các pháp như 6 thức tâm với 6 đối tượng và liên quan đến các pháp: tham ái, ngã mạn, tà kiến chấp thủ và không chấp thủ do bởi tham ái, ngã mạn, tà kiến.

Ngài Trưởng lão Mahācunda cũng nhắc nhở Ngài Trưởng lão Channa rằng:

“Đối với người không còn có tham ái, ngã mạn, tà kiến, thì tâm của bậc ấy không bao giờ bị lay chuyển, …”

Sau khi nhắc nhở khuyên dạy Ngài Trưởng lão Channa xong, Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta và Ngài Trưởng lão Mahācunda trở về chỗ ở của quý Ngài.

Khi ấy, Ngài Trưởng lão Channa không thể kham nhẫn nổi sự đau đớn vô cùng  khủng  khiếp của bệnh phong ấy, nên Ngài Trưởng lão dùng con dao tự cắt cổ giết chết mình để thoát khỏi nỗi thọ khổ ấy.

Ngài Trưởng lão vẫn còn là phàm nhân có giới trong sạch và trọn vẹn, nên trước khi chết, Ngài Trưởng lão thực hành pháp hành thiền tuệ liền dẫn đến chứng ngộ chân lý tứ Thánh đế, chứng đắc 4 Thánh đạo, 4 Thánh quả, Niết bàn, diệt đoạn tuyệt được mọi tham ái, mọi phiền não không còn dư sót, đồng thời tịch diệt Niết bàn gọi là “Bậc Thánh A-ra-hán Jīvitasamasīsi” (nghĩa là khi chứng đắc A-ra-hán Thánh quả đồng thời tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới).

Sau khi Ngài Trưởng-lão Channa đã tự mình cắt cổ chết, Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta đến hầu Đức Thế Tôn tại ngôi chùa Veḷuvana bạch hỏi về kiếp sau của Ngài Trưởng lão Channa như thế nào?

Đức-Phật dạy rằng:

“Tỳ khưu Channa đã chứng đắc A-ra-hán Thánh quả đồng thời tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới”.

Tích Ngài Trưởng lão Channa đã chứng minh:

“Tự sát không phạm điều giới sát sinh”.

Nếu tự sát là phạm điều giới sát sinh, thì Ngài Trưởng lão Channa không thể chứng đắc thành bậc Thánh A-ra-hán.

Sự thật, kiếp này là kiếp chót của Ngài Trưởng lão Channa, nên Ngài chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán rồi mới tịch diệt Niết bàn.

Cho nên, người tự sát không phạm điều giới sát sinh, bởi vì thiếu chi pháp thứ nhì là “pāṇasaññitā”: biết rõ chúng sinh có sinh mạng (nghĩa là chính mình biết rõ chúng sinh khác có sinh mạng).

Như vậy, chi pháp này không ám chỉ mình, mà ám chỉ chúng sinh khác. Cho nên, người tự sát không phạm điều giới sát sinh.

* Tuy người tự sát không phạm điều giới sát sinh, nhưng nếu người tự sát do sân tâm chán đời, tuyệt vọng không muốn sống trên đời này nữa thì sau khi người ấy chết, nếu ác nghiệp sân tâm ấy có cơ hội cho quả thì tái sinh trong cõi ác giới: địa ngục, a su ra, ngạ quỷ, súc sinh, chịu quả khổ cho đến khi mãn quả của nghiệp ấy, mới thoát khỏi cõi ác giới ấy.

Như Đức Phật dạy:

“Evameva  kho  bhikkhave  citte  saṅkiliṭṭhe duggatiṃ paṭikaṅkhā”.

–    Này chư tỳ khưu! Như vậy, khi lâm chung ác tâm do phiền não ô nhiễm sẽ tái sinh trong cõi ác giới: địa ngục, a su a, ngạ quỷ, súc sinh.

Những Trường Hợp Liên Quan Đến Sự Chết

Người hy sinh sinh mạng vì một mục đích cao thượng, với đại thiện tâm thiện chí của mình.

Ví dụ: Trong bộ Visuddhimagga: Thanh Tịnh Đạo phần Sīlaniddesa, Ngài Trưởng lão hành đạo sống ở trong rừng.

Một hôm, bọn cướp gặp Ngài Trưởng lão tại khu rừng, chúng cho là điều xui xẻo sẽ xảy đến với chúng, nên chúng bắt trói Ngài Trưởng lão bằng một đoạn đầu dây rừng tươi còn dính gốc, đặt Ngài nằm tại nơi ấy, rồi bỏ đi.

Khu rừng chẳng may xảy ra vụ hỏa  hoạn, đám cháy dần dần lan đến chỗ Ngài Trưởng lão, Ngài suy xét rằng:

“Nếu ta muốn lánh khỏi nạn chết thiêu thì phải làm cho sợi dây rừng bị đứt, ta sẽ bị phạm điều giới pācittiya.

Sự chết là điều chắc chắn sẽ xảy đến với ta, không sao tránh khỏi được (nghĩa là tránh khỏi chết hôm nay, sau này cũng phải chết).

Thà rằng, hôm nay ta chịu hy sinh sinh mạng, quyết giữ gìn giới mà Đức Phật đã chế định đến tỳ khưu”.

Sau khi quyết định như vậy, Ngài Trưởng lão vốn có giới đức hoàn toàn trong sạch và trọn  vẹn làm nền tảng, làm nơi nương nhờ, nên Ngài Trưởng lão thực hành pháp hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý tứ Thánh đế, chứng đắc 4 Thánh đạo, 4 Thánh quả, Niết bàn, diệt đoạn tuyệt được mọi tham ái, mọi phiền não, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, đồng thời đám cháy lan đến thiêu đốt Ngài Trưởng lão tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới.

* Để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, Đức Bồ tát Chánh Đẳng Giác cần phải tạo đầy đủ 30 pháp hạnh ba la mật: 10 pháp hạnh ba la mật bậc thường, 10 pháp hạnh ba la mật bậc trung và 10 pháp hạnh bậc thượng.

Để thành tựu pháp-hạnh ba-la-mật bậc thượng nào, Đức Bồ tát Chánh Đẳng Giác cần phải hy sinh sinh mạng của mình để thành tựu pháp hạnh ba la mật bậc thượng ấy.

Sự hy sinh sinh mạng của chư Đức Bồ tát Chánh Đẳng Giác vì mục đích cao thượng, để thành đạt ý nguyện trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác với đại thiện tâm thiện chí trong sạch và cao cả, thì không thể gọi là phạm điều giới sát sinh.

Như vậy, dù là người tự sát, hoặc Đức Bồ tát Chánh Đẳng Giác hy sinh sinh mạng, vẫn không phạm điều giới sát sinh, bởi vì không hợp đủ 5 chi pháp của điều giới sát sinh.

Trường Hợp Phạm Điều Giới Sát Sinh, Không Phạm Điều Giới Sát Sinh

Vấn: Một người đi chợ mua thịt hay cá chết đem về làm đồ ăn có phạm điều giới sát sinh hay không?

Đáp: Căn cứ theo 5 chi pháp phạm điều giới sát sinh, thì không có một chi pháp nào cả.

Vậy người ấy không phạm điều giới sát sinh.

Vấn: Trong 2 trường hợp sau đây, người mua thịt cá có phạm điều giới sát sinh hay không?

*    Một người đi chợ đến hàng bán tôm, cá, người ấy không chịu mua những con tôm, cá đã chết, mà chọn lấy những con tôm, cá còn sống, bảo người bán hàng làm thịt những con tôm, cá ấy, rồi mua đem về làm đồ ăn.

*    Một người đi chợ đến hàng bán thịt gà, không chịu mua thịt gà đã làm sẵn, mà chỉ vào con gà đang còn sống, bảo với người bán hàng rằng:

Ông (bà) hãy làm thịt con gà kia bán cho tôi.

Đáp: Căn cứ theo 5 chi pháp phạm điều giới sát sinh, thì hội đủ cả 5 chi pháp. Cho nên, 2 trường hợp này, người bán phạm điều-giới sát- sinh và người mua cũng phạm điều giới sát sinh.

Vấn: Một người làm bếp đi chợ mua những con cá còn sống, con gà còn sống, đem về làm món ăn cho ngon miệng người chủ.

Vậy, người làm món ăn, và người chủ dùng món ăn, người nào phạm điều giới sát sinh, tạo ác nghiệp?

Đáp: Căn cứ theo 5 chi pháp phạm điều giới sát sinh, người làm bếp giết cá, giết gà làm món ăn cho chủ; người làm bếp ấy phạm điều giới sát sinh, tạo ác nghiệp sát sinh, vì hội đầy đủ 5 chi pháp phạm điều giới sát sinh.

*    Trường hợp người chủ bảo người làm bếp phải mua cá còn sống, gà còn sống về làm món ăn cho mình, thì người chủ cũng phạm điều giới sát sinh, tạo ác nghiệp sát sinh.

*    Trường hợp người chủ chẳng hay biết gì về người làm bếp giết cá, giết gà, chỉ có biết dùng những món ăn mà người làm bếp dọn lên bàn mà thôi, thì người chủ không phạm điều giới sát sinh, vì không có chi pháp nào trong 5 chi phạm điều giới sát sinh.

Vấn: Một người vô ý đóng cửa làm chết một con thằn lằn nằm ngay ngạch cửa. Người ấy có phạm điều giới sát sinh hay không?

Đáp: Người ấy không phạm điều giới sát sinh, vì thiếu chi pháp tác ý tâm sở trong ác tâm giết hại chúng sinh.

Vấn: Một người tức giận con chó, có tác ý tâm sở đồng sinh với ác tâm muốn đánh chết con chó, nhưng nó không chết mà chỉ bị thương nặng mà thôi.

Lần sau, người ấy lại đánh đuổi con chó ấy, có tác ý tâm sở đồng sinh với ác tâm làm cho nó sợ bỏ đi, nhưng chẳng may đụng nhằm vào vết thương cũ, làm cho con chó ấy chết.

Vậy, người ấy phạm điều giới sát sinh trong lần thứ nhất hay lần thứ nhì?

Đáp: Người ấy đã phạm điều giới sát sinh trong lần thứ nhất, không phải ở lần thứ nhì, bởi vì, lần thứ nhì người ấy đánh đuổi con chó, có tác ý tâm sở đồng sinh với ác tâm làm cho con chó sợ bỏ chạy đi, mà không có tác ý tâm sở đồng sinh với ác tâm giết hại con chó, v.v…

Phạm Điều Giới Sát-Sinh Tạo Ác Nghiệp Trọng Tội

Người nào phạm điều giới sát sinh như giết cha, giết mẹ, giết bậc Thánh A-ra-hán, người ấy đã tạo ác nghiệp trọng tội thuộc về loại nghiệp ānantariyakamma: ác nghiệp vô gián trọng tội.

Sau khi người ấy chết, chắc chắn ác nghiệp vô gián trọng tội ấy cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci, chịu khổ suốt thời gian lâu dài, mà không có một nghiệp nào có khả năng ngăn cản, làm gián đoạn được ác nghiệp ấy.

Những Trường Hợp Giết Cha, Giết Mẹ, Giết Bậc Thánh A-Ra-Hán

*   Trong đêm tối, người con không phân biệt được cha (hoặc mẹ) của mình, tưởng nhầm rằng kẻ trộm lén vào nhà lấy trộm của cải, người con giết kẻ trộm ấy, nhưng sự thật, người bị giết ấy chính là cha (hoặc mẹ) của mình.

Mặc dù vậy, người con vẫn phạm tội giết cha (giết mẹ), bởi vì người con luôn luôn ân hận vì đã giết nhầm cha (mẹ) của mình.

*    Người con bị bỏ rơi từ khi mới sinh ra đời, được cô nhi viện, hoặc người khác nuôi dưỡng.

Khi trưởng thành, người ấy không biết ai là cha, ai là mẹ của mình.

Nếu người ấy giết một người đàn bà, mà người ấy không biết bà ấy là mẹ của mình, hoặc giết một người đàn ông, mà người ấy không biết ông ấy là cha của mình, nhưng về sau, người con được biết người đàn ông ấy là cha, người đàn bà ấy là mẹ của mình, thì người con vẫn phạm tội giết cha (giết mẹ), bởi vì người con ân hận vì đã giết nhầm cha (mẹ) của mình.

*   Người cha biến đổi trở thành nữ giới, người mẹ biến đổi trở thành nam giới. Nếu người con giết người đàn bà (trước kia là cha) hoặc giết người đàn ông (trước kia là mẹ), thì người con vẫn phạm tội giết cha hoặc giết mẹ.

Những trường hợp như:

–   Người con là loài người, còn cha là loài súc sinh và mẹ là loài người (trường hợp công tử Sīhabāhu xứ Srilankā, là con của một Công chúa và một Sư tử chúa).

–   Người con là loài người, còn mẹ là loài súc sinh và cha là loài người (trường hợp Đạo sĩ Migasinga là con của con nai và một vị Đạo sĩ).

–   Con là loài súc sinh, cha mẹ là loài súc sinh.

Trong 3 trường hợp trên, người con giết cha là loài súc sinh, giết mẹ là loài súc sinh; và con là loài súc sinh giết cha mẹ cũng là loài súc sinh; cả 3 trường hợp này người con đã tạo ác nghiệp nặng sát sinh, mà không gọi là ác nghiệp vô gián trọng tội.

*   Một người đánh đập hành hạ một hành giả còn là phàm nhân đang thực hành pháp hành thiền tuệ bị thương nặng, hành giả ấy tiếp tục thực hành pháp hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý tứ Thánh đế, chứng đắc 4 Thánh đạo, 4 Thánh quả, Niết bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán đồng thời tịch diệt Niết bàn, bởi vì bị thương nặng.

Người đánh đập hành hạ ấy phạm tội giết bậc Thánh A-ra-hán, thuộc về ác nghiệp vô gián trọng tội.

Sau khi người ấy chết, chắc chắn ác nghiệp vô gián trọng tội ấy cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci, chịu khổ suốt thời gian lâu dài.

*    Người dùng thuốc diệt muỗi, diệt trừ sâu bọ, v.v… đều phạm điều giới sát sinh, bởi vì hội đầy đủ 5 chi pháp của điều giới sát sinh.

Thuốc Diệt Vi Khuẩn – Vi Trùng

Dùng thuốc để diệt vi khuẩn, vi trùng không phạm điều giới sát sinh; bởi vì vi khuẩn, vi  trùng không có sinh mạng cũng không có tâm thức. Các vật ấy chỉ có tứ đại (đất, nước, lửa, gió) phát sinh do thời tiết nóng lạnh, bên trong, bên ngoài, được phát triển tăng trưởng do hỏa đại, di chuyển do phong đại. Cũng như các loài thực vật (cây, cỏ,…) cũng không có sinh mạng, không có tâm thức.

Trong số 28 sắc pháp, sắc mạng chủ (jīvitin driyarūpa) phát sinh do nghiệp. Các loài vi  khuẩn, vi trùng, các loài cây cỏ phát sinh  do utu: thời tiết và āhāra: vật thực,… Do đó, diệt vi khuẩn, diệt vi trùng, chặt cây, cỏ không phạm điều giới sát sinh.

Trường hợp đàn bà uống thuốc ngừa thai, diệt tinh trùng của đàn ông… không phạm điều giới sát sinh. Nhưng nếu trường hợp người đàn bà uống thuốc có tác ý trong ác tâm phá thai, thì người đàn bà ấy phạm điều giới sát sinh, phạm tội giết con; bởi vì thai nhi sẽ là một đứa con.

Thật ra, khi tái sinh đầu thai vào lòng mẹ đầu tiên, có đại quả tâm tái sinh đầu thai cùng với 3 sắc pháp là sắc thân (kāya), sắc nam tính hoặc sắc nữ tính (bhava) và sắc ý căn (hadayavatthu) nơi nương nhờ của đại quả tâm.

Như vậy, ngay khi đầu thai đã hình thành một chúng sinh còn rất nhỏ, có đủ ngũ uẩn (3 sắc pháp thuộc sắc uẩn, đại quả tâm tái sinh gồm có 4 danh uẩn), thai nhi có đủ ngũ uẩn.

Còn trường hợp người mẹ bị sẩy thai ngoài ý muốn, thì người mẹ không bị phạm điều giới sát sinh, vì thiếu chi pháp tác ý trong ác tâm giết hại chúng sinh.

Phạm điều giới sát sinh này rất vi tế, cũng rất đa dạng, nên tìm hiểu trong Tạng Luật phần giới pārājika: bất cộng trụ của tỳ khưu.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Giải thích phạm giới Sát sinh

Giải thích phạm giới Sát sinh

Giải thích phạm giới Sát sinh

Ví dụ về phạm giới Sát sinh

*   Ví dụ 1: Người có giới bị đứt là người phạm điều-giới đầu hoặc điều-giới cuối hoặc điều-giới đầu và điều-giới cuối.

Người nào không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội lỗi, nên giết con gà để ăn thịt, người ấy đã phạm điều-giới sát-sinh. Khi ăn thịt gà cùng với uống rượu, bia nên người ấy phạm điều-giới uống rượu, bia nữa.

Như vậy, người ấy có ngũ-giới bị đứt, bởi vì phạm điều-giới thứ nhất “sát-sinh” và điều-giới thứ 5 “uống rượu, bia”.

*   Ví dụ 2: Người có giới bị thủng là người phạm điều-giới ở giữa của điều-giới đầu và điều- giới cuối.

Người nào không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, nên phát sinh tâm tham đi trộm-cắp, chiếm đoạt của cải tài-sản của người khác, người ấy phạm điều-giới trộm-cắp.

Như vậy, người ấy có ngũ-giới bị thủng, bởi vì phạm điều-giới thứ nhì “trộm-cắp” ở giữa của điều-giới đầu và điều-giới cuối,…

*   Ví dụ 3: Người có giới bị đốm là người phạm các điều-giới cách khoảng nhau:

Người nào không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, nên phát sinh tâm tham đi trộm-cắp tiền bạc của người khác, người ấy phạm điều-giới thứ 2 “trộm-cắp”. Khi người ấy bị nghi ngờ, nên bị điều tra xét hỏi, người ấy nói dối rằng: “Tôi không trộm cắp tiền bạc của ông ấy”. Người ấy đã phạm thêm điều-giới thứ 4 “nói-dối”.

Như vậy, người ấy có ngũ-giới bị đốm, bởi vì phạm điều-giới thứ 2 “trộm-cắp” và điều-giới thứ 4 “nói-dối” cách khoảng nhau.

*   Ví dụ 4: Người có giới bị đứt lan là người phạm các điều-giới theo liền với nhau:

Người nào không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, nên phát sinh tâm tham quan hệ tình dục với vợ (hoặc chồng) của người khác, người ấy phạm điều-giới thứ 3“tà-dâm”. Khi người ấy bị nghi ngờ, nên bị xét hỏi, người ấy nói dối rằng: “Tôi không có tà-dâm với vợ của ông ấy (hoặc với chồng của bà ấy)”. Người ấy đã phạm thêm điều-giới thứ 4 “nói-dối”.

Như vậy, người ấy có ngũ-giới bị đứt lan, bởi vì phạm điều-giới thứ 3 “tà-dâm” và điều-giới thứ 4 “nói-dối” theo liền với nhau.

Giải thích phạm giới Sát sinh

Điều – Giới Sát Sinh

Điều-giới sát-sinh liên quan đến sinh-mạng của chúng-sinh có 2 loại nghiệp:

– Người giữ gìn điều-giới tránh xa sự sát- sinh, không sát-sinh, tạo đại-thiện-nghiệp không sát-sinh.

– Người phạm điều-giới sát-sinh là giết hại chúng-sinh, tạo ác-nghiệp sát-sinh.

Quả của đại-thiện-nghiệp không sát-sinh với quả của ác-nghiệp sát-sinh là hoàn toàn trái ngược lẫn nhau.

* Quả Báu Của Đại Thiện Nghiệp Của Người Không Sát Sinh

Người nào giữ gìn ngũ-giới trong sạch và trọn vẹn, trong đó có điều-giới “có tác-ý tránh xa sự sát-sinh”.

– Sau khi người ấy chết, dục-giới đại-thiện- nghiệp không sát-sinh ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người trong cõi người này.

– Hoặc sau khi người ấy chết, dục-giới đại- thiện-nghiệp không sát-sinh ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau làm vị thiên-nam hoặc thiên-nữ trong cõi trời dục-giới, hưởng mọi sự an-lạc trong cõi trời ấy cho đến hết tuổi thọ.

Sau khi vị chư-thiên chết tại cõi trời ấy, nếu trường hợp dục-giới đại-thiện-nghiệp không sát- sinh ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau  trở lại làm người trong cõi người này.

Thì cả hai trường hợp này, người ấy sẽ có được quả báu tốt của dục-giới đại-thiện-nghiệp không sát-sinh trong kiếp quá-khứ của người ấy, đáng hài lòng.

Trong Chú-giải Khuddakapātha giảng giải 23 quả báu của dục-giới đại-thiện-nghiệp không sát sinh trong kiếp quá-khứ của người ấy như sau:

Kiếp hiện tại của người ấy

1-   có thân hình không tật nguyền, đầy đủ các bộ phận lớn nhỏ trong cơ thể.

2-   có thân hình cân đối xinh đẹp.

3-   là người nhanh nhẹn.

4-   có lòng bàn tay, lòng bàn chân đầy đặn.

5-   có thân hình xinh đẹp, không tỳ vết.

6-   có da thịt mềm mại, hồng hào.

7-   có thân hình sạch sẽ, trong sáng.

8-   có đại-thiện-tâm dũng cảm, không sợ hãi.

9-   có sức khỏe dồi dào.

10-   có giọng nói thanh tao, lời nói ngọt ngào, suôn sẻ.

11-   được mọi người quý mến.

12-   có thuộc hạ tùy tùng, bạn bè đoàn kết thương yêu.

13-   thân tâm được an-lạc tự tại, không hoảng sợ.

14-   không bị tai nạn do khí giới, thuốc độc…

15-   có trí-tuệ sáng suốt.

16-   có nhiều bạn bè thân thiết.

17-   có thân hình đẹp đẽ, đáng quý mến.

18-   có các bộ phận lớn nhỏ trong thân thể đẹp đẽ.

19-   là người ít bệnh hoạn ốm đau.

20-   là người có tâm thường an-lạc.

21-   là người thường được sống gần gũi với con cháu.

22-   là người được trường thọ, sống lâu.

23-   không có một ai có thể mưu sát được.

Đó là 23 quả báu tốt của dục-giới đại-thiện- nghiệp không sát-sinh mà tiền-kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá-khứ.

* Quả Xấu Của Ác Nghiệp Của Người Phạm Điều Giới Sát Sinh

Nếu người nào phạm điều-giới sát-sinh, giết hại sinh-mạng của chúng-sinh, dù lớn dù nhỏ thì người ấy cũng đã tạo ác-nghiệp sát-sinh.

–    Nếu có ác-nghiệp sát-sinh nặng, thì sau khi người ấy chết, ác-nghiệp sát-sinh ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi ác-giới, chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy, mới thoát khỏi  được cõi ác-giới.

Sau khi thoát khỏi cõi ác-giới, trường hợp nếu có dục-giới đại-thiện-nghiệp nào khác có cơ hội cho quả thì tái-sinh kiếp sau trở lại làm người.

–    Và trường hợp, nếu người nào phạm điều- giới sát-sinh, tạo ác-nghiệp sát-sinh nhẹ, người ấy sau khi chết, ác-nghiệp sát-sinh nhẹ ấy không có cơ hội cho quả tái-sinh, mà dục-giới đại- thiện-nghiệp nào khác có cơ hội cho quả tái- sinh kiếp sau trở lại làm người.

Thì cả hai trường hợp này, người ấy còn phải chịu quả xấu của ác-nghiệp sát-sinh trong kiếp quá-khứ của người ấy.

Quả xấu của ác-nghiệp sát-sinh có 23 quả xấu là hoàn toàn trái ngược với quả tốt của đại- thiện-nghiệp không sát-sinh như sau:

Kiếp hiện-tại của người ấy

1-   có thân hình tật nguyền.

2-   có thân hình không cân đối, xấu xí.

3-   là người chậm chạp.

4-   có lòng bàn tay, và dưới lòng bàn chân lõm sâu.

5-   có thân hình xấu xí, đầy sẹo.

6-   có sắc diện tối tăm.

7-   có da thịt sần sùi.

8-   có tính hay sợ hãi.

9-   có sức khỏe yếu đuối.

10-   có tật cà lăm, nói lặp đi lặp lại, không suôn sẻ.

11-   bị mọi người ghét bỏ.

12-   có những thuộc hạ tùy tùng bị chia rẽ.

13-   có tính hay giật mình, hoảng sợ.

14-   thường bị tai nạn do khí giới, thuốc độc…

15-   là người si mê, ngu dốt.

16-   có rất ít bạn bè.

17-   có thân hình dị hợm, đáng ghê sợ.

18-   có thân hình kỳ dị.

19-   là người hay bệnh hoạn ốm đau.

20-   là người thường sầu não, lo sợ.

21-   có con cháu thường xa lánh.

22-   là người bị chết yểu.

23-   là người bị người khác giết chết.

Đó là 23 quả xấu của ác-nghiệp sát-sinh mà tiền-kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá-khứ.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngu gioi trong Phat giao Nguyen Thuy maithengoc.com

Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ-giới (pañcasīla) là thường-giới (nicca- sīla) của tất cả mọi người trong đời, không ngoại trừ một ai cả, không phân biệt già trẻ, trai gái, dân tộc nào cả, hễ là người tại gia thì phải giữ gìn ngũ-giới cho được trong sạch và trọn vẹn, bất luận là người có thọ trì ngũ-giới hoặc không thọ trì ngũ-giới cũng đều có bổn phận giữ gìn ngũ-giới của mình cho được trong sạch và trọn vẹn.

Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Nếu người nào biết hổ-thẹn tội-lỗi, biết ghê- sợ tội-lỗi, biết tự trọng, biết giữ gìn ngũ-giới của mình được trong sạch và trọn vẹn thì người ấy đã tạo đại-thiện-nghiệp giữ giới có cơ hội cho quả tốt, quả an-lạc trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai.

Sau khi người ấy chết, đại-thiện-nghiệp giữ giới có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong 7 cõi thiện-dục-giới là cõi người hoặc 6 cõi trời dục-giới, hưởng mọi sự an-lạc trong cõi thiện- giới ấy cho đến khi mãn quả của đại-thiện- nghiệp ấy (chết). Sau khi chết, nghiệp khác cho quả tái sinh kiếp sau trong cõi-giới nào tuỳ theo quả của nghiệp của chúng-sinh ấy.

Nếu người nào không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, không biết tự trọng, phạm điều-giới nào trong ngũ-giới thì người ấy đã tạo ác-nghiệp phạm điều-giới ấy có cơ hội cho quả xấu, quả khổ trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai.

Sau khi người ấy chết, ác-nghiệp phạm giới có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi ác- giới (địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh), chịu quả khổ trong cõi ác-giới ấy, cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy (chết). Sau khi chết, nghiệp khác cho quả tái sinh kiếp sau trong cõi- giới khác, tuỳ theo quả của nghiệp của người ấy.

Ngũ-giới (pañcasīla) là thường-giới (nicca- sīla) đã có từ nghìn xưa, không phải là giới mà Đức-Phật chế định.

Mỗi điều-giới có những chi-pháp riêng biệt, muốn biết mình có phạm điều-giới hoặc không phạm điều-giới, cần phải căn cứ vào những chi- pháp của mỗi điều-giới ấy.

Nếu người nào hội đủ các chi-pháp của điều- giới ấy thì người ấy đã phạm điều-giới ấy, nếu thiếu chi-pháp nào trong các điều-giới ấy thì không gọi là phạm điều-giới ấy.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Hiểu về Bát quan trai giới

Hieu ve Bat quan trai gioi maithengoc

Hiểu về Bát quan trai giới

Dẫn nội dung về Bát quan trai giới

Ðức Phật Thích-Ca nói pháp gần 50 năm, có đến 84.000 pháp môn, vô lượng diệu nghĩa. Mặc dù giáo pháp nhiều như thế, nhưng không ngoài ba môn chính là “giới, định, huệ”.

Trong “giới, định, huệ”, thì giới là phần quan trọng, là phần căn bản. Nhờ giới, tâm mới định, tâm có định, huệ mới phát sinh, huệ có phát sinh mới dứt trừ được vô minh phiền não; vô minh phiền não có dứt trừ mới minh tam kiên tánh và thành Phật. Nhưng giới cũng có nhiều thứ: có thứ cao, thứ thấp, có thứ áp dụng cho hàng xuất gia, có thứ cho hàng tại gia. Trong hàng xuất gia, thì Sa di chỉ giữ 10 giới, Tỳ kheo giữ 250 giới, Tỳ kheo ni đến 348 giới. Về phía tại gia thì có Tam quy, Ngũ giới, Bát quan trai giới, Bồ tát giới. Tam quy Ngũ giới, thì chúng ta đã học rồi; Bồ tát giới thì khó khăn hơn, chúng ta sẽ học sau. Bây giờ đây, chúng tôi chỉ nói đến Bát quan trai giới.

Thực hành Bát quan trai giới

Bát quan trai giới là một phép tu hành của người tại gia áp dụng trong một ngày một đêm (24 giờ).

Chữ “Quan” là cửa, cửa ngăn chặn tám điều tội lỗi. Chữ “Trai”, tiếng Phạn là Posadha, nghĩa là khi đã qua giờ ngọ (12 giờ trưa) không được ăn nữa. Vậy “Bát quan trai giới” là sự giữ gìn cho thân tâm được thanh tịnh trong 24 tiếng đồng hồ bằng cách ngăn chặn 8 điều tội lỗi sau đây:

  1. Không được sát sinh
  2. Không được trộm cướp
  3. Không được Tà dâm
  4. Không được nói dối
  5. Không được uống rượu
  6. Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát.
  7. Không được nằm ngồi giường cao rộng đẹp đẽ
  8. Không được ăn quá giờ ngọ.

Hiểu về Bát quan trai giới

Thế nào là không Sát sinh

Chúng sinh mặc dù hình dáng có khác nhau, nhưng cùng có một điểm quan trọng giống nhau là tham sống, sợ chết, biết đau khổ vui mừng. Không cần phải dẫn chứng cho xa xôi, ngay trong sự quan sát hằng ngày, chúng ta cũng nhận thấy: cá thấy người cá lội xa, chim thấy người chim bay cao, cũng như người thấy cọp người lẩn trốn, vì đều sợ lâm nguy đến tính mạng cả. Khi bị bắt, chim, cá hay người đều vùng vẫy để cố trốn thoát. Và khi được thả ra, thoát chết, chao ôi! Còn gì sung sướng cho bằng! Nhận thấy được sự tham sống sợ chết, nỗi vui mừng, đau xót của muôn loại như thế, mà chúng ta còn đang tâm giết hại sinh mạng, thì thật là nhẫn tâm, tàn ác vô cùng.

Từ trước đến nay, loài người đã giết hại rất nhiều, bằng đủ phương tiện, nào làm lưới để bắt cá dưới nước, dùng cung tên súng đạn để bắt cầm thú trên đất…và nhất là dùng đủ mưu mô kế hoạch để giết hại chém giết lẫn nhau. Về phía thiện, thì có nhiều người cũng thiện vô cùng; nhưng về phía ác, thì cũng nhiều người ác vô cùng.

Chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người theo đạo từ bi. Chúng ta cần phải cố gắng đừng sát hại sinh vật và nhất là đừng sát hại người. Về sự sát hại người, trong Ngũ giới Phật đã tuyệt đối cấm chỉ, và chúng ta cũng đã phát nguyện giữ giới ấy. Nhưng về sinh vật, vì một số Phật tử còn ăn mặn, nên chưa tuyệt đối giữ được giới sát. Vậy ít ra trong ngày thọ Bát quan trai, chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới ấy. Chúng ta không giết người, không trù tính mưu mô giết người đã đành! Chúng ta cũng không nên động đến sinh mạng của tất cả mọi loài hữu hình. Hơn nữa, nếu thấy ai có ý giết hại sinh vật, chúng ta phải khuyên lơn ngăn cản đừng cho người ta thi hành ác ý ấy.

Ðược như thế là ta giữ được trọn vẹn giới sát, mặc dù chỉ trong một ngày đêm, nhưng lợi ích sẽ lớn lao vô cùng cho việc tu hành của chúng ta.

Thế nào là không Trộm cướp

Hai chữ trộm cướp ở đây có một ý nghĩa rộng lớn vô cùng. Những vật thuộc quyền sở hữu của người ta, từ vàng, bạc, châu báu, đất ruộng nhà cửa, cho đến đồ đạc, cây kim sợi chỉ, cọng rau, người ta không cho mà mình lấy, là trộm cướp. Lường thăng tráo đấu, đo thiếu lấy thừa, đi làm trễ giờ, bóc lột công nhân, lấy của công, ăn hối lộ, được của người không trả lại, đều là trộm cướp.

Người đời coi tiền của hơn tánh mạng, trèo non, lặn suối, lo mưu này tính kế nọ để làm ra tiền nuôi thân và gia đình, và để dành dụm phòng khi đau ốm, tai nạn. Nếu rủi bị mất tiền của do mồ hôi nước mắt mà có, người ta vô cùng đau khổ, tuyệt vọng có khi đến quyên sinh. Chúng ta cũng đã có nhiều khi đau buồn vì mất của, thì xét người khác cũng vậy. Chúng ta không muốn ai trộm cướp của mình, thì tất nhiên mình cũng không nên trộm cướp của ai. Ðó là lẽ công bằng rất giản dị. Huống chi chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người quyết tâm diệt trừ tham dục, để được giải thoát, thì lẽ nào ta lại lấy của phi nghĩa?

Trong cuộc đời tranh đấu hằng ngày để sống, có nhiều khi chúng ta không giữ được một cách tuyệt đối giới cấm này, chẳng hạn, chúng ta làm ít mà cố đòi lương cho cao, bán hàng xấu với giá cao, mưu tính chước này kế nọ để được lợi nhiều một cách thiếu chính đáng… Có khi chúng ta nhận thấy như thế là bất chính, nhưng tự bào chữa rằng vì sự sống của gia đình, thân thuộc mà phải làm như thế.

Nhưng trong ngày thọ Bát quan trai giới, chúng ta hãy quyết không trộm cướp đã đành, mà cũng không được để cho một ý nghĩ tham lợi móng lên trong tâm. Chúng ta không trộm cướp, không nghĩ đến sự trộm cướp, mà thấy ai trộm cuớp hay nẩy ra ý trộm cướp thì chúng ta cũng khuyên can họ, ngăn ngừa không cho họ làm bậy. Không những không trộm cướp và ngăn ngừa sự trộm cướp mà thôi, chúng ta còn bố thí cho những người nghèo khổ, thiếu ăn thiếu mặc, tìm cách giúp đỡ những người thân thuộc, trong cảnh túng thiếu.

Giữ được giới này một cách tuyệt đối, thì dù thời gian ngắn ngủi trong 24 giờ đồng hồ, chúng ta cũng đã gieo được những nhân lành tốt đẹp cho sự tu hành của chúng ta.

Thế nào là không Tà dâm (dâm dục)

Dâm dục là cái nghiệp nhơn sinh tử luân hồi, nên người xuất gia phải đoạn hẳn. Phật dạy rằng: “Người muốn đoạn trừ sinh tử, chứng quả Niết-bàn mà không trừ hẳn dâm dục, thì không khác kẻ nấu cát sạn mà muốn cho thành cơm, dù ra công đem nấu, trải qua năm ngàn kiếp cũng không thành cơm được”.

Vậy những Phật tử xuất gia, muốn thành Phật quả thì phải trừ dâm dục.

Còn những Phật tử tại gia, chưa có thể hoàn toàn đoạn trừ dâm dục được, thì Phật chỉ cấm tà dâm, nghĩa là ngoài vợ chồng, không được lang chạ; và giữa vợ chồng, cũng cần phải giữ chánh lễ, biết tiết dục để cho thân tâm được trong sạch nhẹ nhàng.

Nhưng đây là nói về ngày thường của Phật tử tại gia. Chứ đến ngày thọ Bát quan trai giới, thì tuyệt đối phải giữ giới tịnh hạnh, không được hành động dâm dục đã đành, mà cũng không được nhớ nghĩ đến những điều dâm dục.

Nếu triệt để giữ đúng giới này, thì dù chỉ trong 24 giờ đồng hồ, lợi ích cũng rộng lớn vô cùng, vì chúng ta đã có dịp để gieo nhơn tịnh hạnh là một nhơn rất quý báu trong sự tu hành diệt dục.

Thế nào là không được Nói dối

Nói dối là tâm nghĩ miệng nói trái nhau. Nói dối có 4 cách, mà chúng ta đã có học rồi trong bài Ngũ giới. Ðó là: nói không thật, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác.

Chúng ta đã thấy, hằng ngày trong đời, tai hại của sự nói dối. Tai hại lớn nhất là làm mất lòng tin cậy nhau. Trong một gia đình mà không tin nhau, thì gia đình sẽ tan nát; trong một xã hội mà không tin nhau, thì xã hội sẽ điêu tàn.

Trong đời sống hằng ngày chúng ta chưa có thể hoàn toàn giữ giới này được, thì trong ngày thọ Bát quan trai giới, chúng ta hãy triệt để thực hành giới cấm này. Chúng ta không nói sai, không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không nói lời hung ác đã đành; chúng ta lại còn khuyên răn những người chung quanh giữ đúng giới không nói láo ấy!

Nếu thực hành triệt để giới cấm này, thì dù chỉ trong một ngày đêm, chúng ta cũng đã gieo được một hột nhơn quý báu rất hiếm có trong đời này là: lòng chân thật.

Thế nào là không được uống rượu

Rượu làm say mê, tối tăm trí não người uống. Nó còn nguy hiểm hơn cả thuốc độc, vì thuốc độc uống vào chết ngay, song chỉ giết chết một đời người thôi; chớ rượu làm cho người cuồng tâm, mất trí, gây nên nhièu tội lỗi, chết đi sanh lại, luân hồi nhiều kiếp trong tối tăm si ám.

Bởi thế, trong Kinh, Phật dạy: “Thà uống nước đồng sôi cho tan mất thân này, chứ không nên uống rượu”.

Chúng ta là Phật tử, nghĩa là những người đang trau dồi trí tuệ để được sáng suốt như Phật, chúng ta không được uống rượu. Chúng ta không uống rượu đã đành, mà cũng không khuyên mời người uống rượu. Tự mình uống rượu tội còn nhẹ, chớ khuyên mời người khác uống, tội lại nặng hơn.

Song, trong lúc đau ốm, nếu lương y bảo phải có rượu hòa với thuốc uống mới lành bệnh, thì chúng ta cũng được tạm dùng, Khi đó rượu trở thành một vị thuốc, chứ không phải là một vị làm cho trí não ta cuồng loạn nữa.

Ðấy là nói về ngày thường, chứ trong ngày thọ “Bát quan trai giới”, chúng ta phải trừ tuyệt rượu, không được uống đã đành, mà còn khuyên răn người khác đứng uống nữa.

Thế nào là không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và đi xem múa hát

Năm giác quan: tai, mắt, mũi, lưỡi, thân là năm cửa ngõ, có thể mở đường cho chúng ta đến cảnh giới Niết-bàn, hay vào địa ngục. Nếu chúng ta biết mở năm cánh cửa ấy về nẻo thanh tịnh, nghe những lời hay lẽ phải, thấy những điều thiện, điều lành, ngửi những mùi thơm tinh khiết, đạo vị, thì con đường đến Niết-bàn, giải thoát không xa. Trái lại, nếu chúng ta hướng những cánh cửa giác quan ấy vào cõi ô trọc, mở rộng chúng cho tội lỗi ùa vào, nào nghe tiếng du dương luyến ái của dục vọng, thấy cảnh trụy lạc, dâm ô, ngửi mùi vị say nồng, kích thích dục lạc, thì con đường địa ngục đã sẵn sàng mở rộng để đón chờ chúng ta.

Phật cấm Phật tử trang điểm, tô sơn trét phấn, xức ướp dầu thơm, múa hát lả lơi, quyến rũ, hay cấm đi xem những cảnh múa hát ấy, là vì muốn cho chúng ta khỏi đọa vào địa ngục.

Nhưng trong đời sống hằng ngày của người Phật tử tại gia, vì còn tiếp xúc với đời sống xã hội, nên phải ăn mặc tề chỉnh trang nghiêm, đôi khi cũng phải đi dự những buổi hòa nhạc, hay múa hát, miễn là những thứ âm nhạc, những điệu múa hát ấy có tánh cách trong sạch, xây dựng và hướng thiện. Nhưng trong hiện tại, các thứ nghệ thuật: kịch nhạc, ca, vũ, cải lương, chiếu bóng… phần nhiều có tánh cách trụy lạc, thoái hóa, chúng ta nên đề phòng, đừng quá dễ dãi mà sa vào vòng tội lỗi.

Trên đây là nói trong ngày thường, chứ ngày thọ giới Bát quan trai, chúng ta nhất định không được trang điểm, xức ướp dầu thơm, múa hát hay đi xem múa hát. Hơn nữa, chúng ta phải cố gắng diệt trừ những âm hưởng, bóng dáng của những thứ nghệ thuật không lành mạnh, trong đầu óc chúng ta.

Ðược như thế, thì tuy thời gian chỉ ngắn ngủi có 24 giờ, ảnh hưởng tốt đẹp của nó vô cùng quý báu cho sự tu hành của chúng ta.

Thế nào là không được nằm ngồi giường cao đẹp, rộng lớn

Ðiều răn cấm này cũng như điều răn cấm thứ sáu, có mục đích ngăn ngừa thân xác ta, không cho buông lung theo những cảm giác mơn trớn khoái lạc của giường cao nệm tốt, chăn ấm màn êm. Vì những cảm giác này có thể kích thích lòng ham muốn bất chính của xác thân, tạo điều kiện cho chúng ta gây tội lỗi, nên Phật chế ra giới cấm này. Xưa Ngài Ngộ-Ðạt quốc sư là một bực cao đức, được vua Ý-Tôn và vua Hy-Tôn hết sức ưu đãi. Vua Ý-Tôn cúng cho Ngài một bảo tọa bằng trầm hương rất quý báu. Từ khi được bảo tọa ấy, Ngộ-Ðạt quốc sư mống niệm danh lợi, thành ra thất đức, phải chịu nhiều tai vạ và khổ đau.

Vì hiểu rõ cái tai hại của giường cao chiếu rộng, chăn ấm nệm êm, nên xưa Ngài Hiếp-Tôn-Giả từ khi xuất gia, lưng không nằm chiếu; Ngài Cao-Phong-Diệu thiền sư lập nguyện: ba năm không nằm giường chõng; đức Phật Thích-Ca, trong khi xuất gia tìm đạo, đã gối cỏ nằm sương, từ năm này sang năm khác…

Noi gương người xưa, các vị xuất gia chỉ nằm trên một cái giường nhỏ hẹp, vừa ngủ, chứ không bao giờ dùng giường rộng nệm cao. Kẻ tại gia cũng nên tập dần đức tánh giản dị đạm bạc ấy. Nếu chưa làm được trong ngày thường, thì ngày thọ giới Bát quan trai, cũng phải triệt để thi hành giới thứ bảy này.

Thế nào là không được Ăn quá giờ ngọ.

Trong luật Phật dạy: “Chư thiên ăn sớm mai, Phật ăn giờ ngọ, súc sinh ăn sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn tối, chư tăng học theo Phật, phải ăn đúng giờ ngọ”.

Ăn đúng giờ ngọ, được năm điều lợi sau đây:

  • Ít mống tâm sai quấy
  • Ít buồn ngủ
  • Dễ được nhất tâm
  • Ít hạ phong
  • Thân được yên ổn và ít sanh bệnh.

Trừ một vài trường hợp như khi đau ốm, luật cũng châm chước cho được ăn cơm cháo sau giờ ngọ, nhưng khi ăn phải sinh lòng hổ thẹn.

Vì những lợi ích thiết thực nói trên, nên người xuất gia cần phải thực hành. Còn Phật tử tại gia, khi tu Bát quan trai giới cũng phải giữ đúng giới này.

Lợi ích của Bát quan trai giới rất lớn lao

Như chúng ta đã thấy ở các đoạn trên, Bát quan trai giới là một pháp tu vô cùng lợi ích cho Phật tử tại gia. Trong thời gian tu hành ấy, thân, khẩu, ý của người thọ giới được hoàn toàn thạnh tịnh, tuy chỉ có 24 giờ đồng hồ, nhưng 24 giờ ấy còn quý báu hơn cả một đời của người không tu hành. Tuy lượng rất ít, mà phẩm lại nhiều vô cùng. Nó chỉ là giọt nước, nhưng là một giọt nước trong sạch hoàn toàn, cho nên nó còn quý hơn cả một ao nước đục bùn nhơ, nó chỉ là một viên ngọc nhỏ xíu, nhưng đó là viên ngọc Ma-ni, nên nó còn quý hơn trăm ngàn châu báu khác.

Chúng ta hãy phân tích một cách rõ ràng những lợi ích mà chúng ta đã thâu hoạch được trong 24 giờ ấy mà xem.

  1. Nhờ giới thứ nhất, tâm ta không có ác ý giết hại sinh vật, miệng ta không nhai nuốt những máu huyết tanh hôi, thân ta không nặng nề vì thịt cá. Ðối với chung quanh, ta không làm cho người và súc vật đau khổ, mất thân mạng.
  2. Nhờ giới thứ hai, tâm ta không động, ý ta không tham lam, thân ta không mang nặng những vật phi nghĩa. Ðối với người chung quanh, ta không làm họ đau khổ vì mất của cải mà họ đã nâng niu, quý trọng.
  3. Nhờ giới thứ ba, tâm ta được thanh tịnh, thân ta khỏi ô uế. Ðối với người bạn trăm năm, cùng những người chung quanh, ta giữ đúng lễ, làm cho họ kính trọng.
  4. Nhờ giới thứ tư, tâm ta không tà vạy, lưỡi ta không dối trá, điêu ngoa. Ðối với người chung quanh, ta giữ được chữ tín, làm mọi người khỏi lo sợ, nghi ngờ vì ta.
  5. Nhờ giới thứ năm, tâm ta được minh mẫn, miệng ta không nồng nặc hơi men, thân ta không loạn động. Ðối với người chung quanh, ta không làm cho họ phải lo sợ, khổ sở vì con ma men hành hạ.
  6. Nhờ giới thứ sáu, tâm ta không buông lung theo dục lạc, giác quan ta không dung chứa những hình ảnh, mùi vị, âm thanh tà tạp, dâm ô…Ðối với người chung quanh, ta không làm cho họ phải tập nhiễm những cảm giác không trong sạch, không thanh thoát.
  7. Nhờ giới thứ bảy, tâm ta không mống lên những niệm danh lợi, xa hoa; thân ta không bị dục lạc lôi cuốn. Ðối với người chung quanh, ta dễ gần gũi, thân cận, vì không bị cái cao sang, phù phiếm bên ngoài ngăn cách.
  8. – Nhờ giới thứ tám, tâm ta được định tĩnh, sáng suốt, thân ta nhẹ nhàng, ít bệnh tật; đối với các loài chung quanh, như người nghèo đói, ngạ quỷ, súc sinh, ta không gây ra sự thèm khát, vì sự lục lạo ăn uống về đêm.

Bao nhiêu sự lợi ích cho mình và cho người mà chúng ta đã thâu thập được trong khoảng 24 giờ đồng hồ, thử hỏi có một pháp tu hành của người tại gia nào quý báu hơn thế nữa?

Bởi vậy Phật tử nên thực hành Bát quan trai giới để được sự lợi ích

Phật tử tại gia mặc dù suốt ngày suốt tháng bận bịu về sinh kế làm ăn, mỗi tháng cũng nên sắp xếp việc nhà, vào chùa thọ Bát quan trai giới một vài lần. Nếu hoàn cảnh thuận lợi, có thể thọ được nhiều lần lại càng tốt.

Nếu không đủ điều kiện đến chùa, thì phương tiện của nhà tu cũng được, nhưng lợi ích không bằng đến chùa.

Vậy xin khuyên các Phật tử tại gia, nên cố gắng thực hành y như lời Phật dạy, tu theo hạnh giải thoát, rồi khuyên nhiều người thực hành theo, để cùng nhau tiến bước lên đường giải thoát, an vui.

Nguồn chuavanduc
Tham khảo thêm Tu tập | Youtube | Fanpage

Sắc dục qua cái nhìn của Đạo Phật

Duc maithengoc.com

Sắc dục qua cái nhìn của Đạo Phật

Vạn hữu vũ trụ có muôn màu muôn vẻ. Từ cảnh trí thiên nhiên đến vạn vật, con người, mỗi một đều có sắc thái riêng hoặc đáng yêu, hoặc đáng ghét, hoặc không đáng yêu nhưng không đáng ghét. Đối với những hình sắc đang yêu thì khởi tâm tam, bằng mọi cách phải thu về làm sở hữu cho mình. Với những sắc thái đáng ghét thì khởi tâm quyết tâm phá huỷ cho bằng được, với những sắc không yêu cũng không ghét, thì si mê mờ mịt chẳng màng ra sao cũng được. Yêu ghét là hai mặt của tâm dục. Dục là sự ham muốn thôi thúc trong lòng khiến người ta phải hành động để được thoả mãn. Tâm dục đặt trên các sắc tướng gọi là “Sắc dục”.

DỤC 

Ở đây nói về sắc dục tức là lòng ham muốn đối với tất cả các hình sắc vừa mắt người nhìn như hình sắc nam, nữ xinh đẹp, khôi ngô tuấn tú, mắt phượng, mày ngài, môi hồng má thắm, sắc tướng dễ mến đáng yêu, nhìn chúng rồi sinh lòng tham ái. Đây là tham ái hình sắc nam nữ. 

Lại có hạng người đối với sự luyến ái nam nữ tâm nhiễm nhẹ nhàng chẳng sinh chấp trước nhưng lại rất yêu quí các thứ bảo vật thế gian như vàng, bạc, kim cương, ngọc ngà, châu báu ánh lên những màu sắc rực rỡ, hoặc yêu thích những vật dụng đồ dùng cổ xưa, đam mê trong sự sưu tầm tem thư, đồ cổ. 

Lại có người yêu thích vẻ đẹp thiên nhiên cỏ cây hoa lá, say mê với chậu kiểng, giàn lan, v.v… 

Thông thường, nói đến sắc dục là nhấn mạnh vào sự đắm sắc của nam nữ, tình ái si mê, trai yêu sắc gái, gái đắm hình trai, ân ái qua bao kiếp buộc ràng nhau không có kỳ chấm dứt. Lại có người chỉ yêu chuộng tự thân, cứ trau chuốt, điểm trang cho nó sang đẹp rồi tự hào, kiêu căng về nhan sắc của mình, không ngờ đây chính là hoạ hại. Vì nhan sắc dẫn đến ái dục, nó là một loại cạm bẫy, nó ngọt ngào mời gợi lòng dục của người khác phái, thách thức với lòng ganh tị của người cùng phái, nó nhận chìm chính đương sự và đối tượng cam tâm chịu chết trong ái dục mà không có khả năng từ khước. Lăn lộn trong biển dục mênh mông, làm nô lệ cho sắc tình, rất đau khổ mà người ta vẫn đắm đuối không chịu tránh xa như con thiêu thân biết sẽ thiệt mạng mà vẫn cứ lao vào ngọn lửa. 

Người đuổi theo sắc dục không biết chán như người uống nước muối, càng uống càng khát, càng đắm mê thì hoạ hại càng lắm, tự đem mình vào chỗ hang hùm miệng sói mà vẫn không sợ. Sắc dục làm cho bản thân chóng tàn cỗi, bệnh hoạn lại thêm nhiều phiền não khổ đau. Những thiên tình sử đẫm lệ cũng xuất phát từ sự đam mê tình ái. Vì sắc dục một người hiền lương có thể trở thành tướng cướp, một con người hiếu thuận có thể trở nên ngỗ nghịch làm khổ cha me, một người chồng tốt, một người vợ đảm đang có thể đánh mất lòng chung thuỷ làm cho gia đình ly tán, con cái bơ vơ. Trong lịch sử có biết bao anh hùng hảo hán chỉ vì đắm sắc mà phải tan thân mất mạng. Các vị vua chúa vì sắc dục mà quốc phá gia vong, thân bại danh liệt lưu tiếng xấu muôn đời. 

Dục_maithengoc.com.jpg

Đam mê sắc dục là tự phá hoại đời mình, đó là hạng phàm phu tự dìm mình xuống chỗ bùn lầy. Đức Phật ví họ như một đứa bé dại khờ vì tham tiếc một chút mật trên lưỡi dao bén, le lưỡi liếm mà phải chịu cái hoạ đứt lưỡi, hoặc như người ngu si cầm đuốc đi ngược gió ắt phải bị cháy tay. Sắc dục hại người hơn cả thú dữ, hơn cả nước lũ vì nó mê hoặc người làm việc xấu ác, tạo tai họa nhiều kiếp sâu dày, chịu trầm theo: kienthuc.net.vn 34 Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy số 28 (tháng 3) luân khổ sở không thể nào thoát khỏi. 

Nhận thức rõ hoạ hại của sắc dục Đức Phật dạy các đệ tử Ngài phải dè dặt đừng để đắm luyến sắc đẹp. Ngài khẳng định sức mạnh của sắc dục như sau: “Sự ham muốn không gì hơn sắc đẹp, sự ham muốn sắc đẹp ngoài nó không có gì lớn bằng, cũng may chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có cái gì thứ hai bằng nó thì người khắp thiên hạ không ai có thể tu hành được”. 

Con người có nhiều ham muốn, trong đó ham muốn sắc đẹp tức sắc dục là nặng hơn hết. Chỉ một mình nó là hơn hết nên còn có người khả dĩ tu được, khả dĩ vượt qua nổi. 

Tất cả các loài sinh trong vũ trụ đều do dục mà ra. Ái dục là bản chất của mọi đời sống. Loài thực vật biểu lộ tính dục bằng sự nở rộ các loài hoa khoe sắc hương để nhờ gió hoặc để các loài ong bướm đến thụ phấn cho những nhuỵ hoa. Ở loài động vật, tiếng thú kêu, tiếng chim hót là lời kêu gọi bạn tình. Cho đến loài người, hạt giống, ái dục ngủ ngầm tiềm ẩn bên trong thúc giục thần thức đi vào thai mẹ để rồi có mặt, quay cuồng trong vòng luân hồi sinh tử. Được sinh ra từ sự đam mê sắc dục, được nuôi dưỡng trưởng thành nơi dục cho nên muốn vượt qua nó là một việc rất khó khăn, vì thế Đức Phật nói rằng sắc dục rất mạnh, nó mạnh hơn tất cả các thứ dục và ngài khuyên nhắc để được giải thoát an lạc phải dè dặt đừng để đắm luyến trong sắc dục. 

Giáo pháp của Đức Phật đã vạch trần bản chất của sắc tướng là vô thường, nó mong manh phù du, chợt có chợt không như ánh chớp, như hòn bọt, như giọt sương trong sức nóng của mặt trời, không thể nắm bắt được. Bản chất của sắc tướng là vô ngã, nó chỉ là sự tụ hội của nhiều yếu tố, điều kiện mà thành, nếu các yếu tố ấy phân ly thì sắc tướng kia cũng mất. Vì thế, tuy đang hiện hữu đây mà rõ chỉ là tướng hư giả nó theo duyên mà hình thành, theo duyên mà tồn tại, theo duyên mà lụi tàn nên nó không có thực chất. 

Bản chất của sắc tướng là nhơ uế. Nhìn lại hình hài một con người để thấy rõ điều này. 

Thân người được phủ bên ngoài một lớp da chi chít những lỗ li ti gọi là lỗ chân lông, bên trong là lớp mỡ thịt, đắp vào một khung xương rồi nối liền nhau bởi những sợi gân và lục phủ ngũ tạng chứa đựng đồ nhơ uế như phân, nước tiểu, máu huyết, mồ hôi, đờm, dãi, chảy tràn ra ngoài qua các lỗ chân lông. Mắt tai, mũi, miệng, cửa đại, tiểu. Nếu trong 24 giờ mà không chải răng, súc miệng, tắm rửa thì tự mình cũng không chịu nổi sự hôi dơ nơi mình huống chi là người khác. Thế nên Phật bảo thân người là một túi da hôi thúi, dù tô son trét phấn, áo lụa quần là bao bọc bên ngoài thì thực chất cũng chỉ là túi da hôi thúi mà thôi. Người trí quán chiều sâu sắc để thấy rõ thực chất của sắc thân, để không bị sắc dục nhấn chìm trong biển ái. 

Vua Trần Thái Tông, một ông vua thiền sư đời Trần trong bài “Rộng nói về sắc thân” đã nói rõ cái ô uế của thân qua các câu sau.

“Đầu sọ khô cài trâm giắt ngọc, túi da hôi ướp xạ xông hương, cắt lụa là che đậy máu tanh, dồi son phấn át thùng phân thối. Trang sức như thế trọn là gốc nhớp. Không thể nơi đây tự thẹn lại hướng trong ấy mến yêu.” 

Ngài sống trong triều đình, trong cung có biết bao cung phi mỹ nữ điểm trang lộng lẫy, giắt ngọc cài hoa, hương xông xạ ướp nhưng ngài thấy rõ tận gốc chỉ là “đầu sọ khô”, “túi da nhớp”, “máu tanh hôi”, “thùng phân thôi”, đâu có gì là mỹ lệ yêu kiều. Trang sức như vậy cũng chỉ để che đậy cái thân bẩn thỉu gớm ghê. Thế mà lại có những kẻ mê muội lại hướng vào đó mà tự hào, yêu mến nó. Thật là không biết hổ thẹn, thật là quá đỗi mê lầm. 

Đáng thương vậy. Giọt mật trên lưỡi dao bén không có lỗi, lỗi là do kẻ dại khờ, ngọn đuốt cháy tạt theo hướng gió không có tội, tội là do người ngu muội, sắc thân vốn không lỗi gì, tự nó không có lỗi cũng không có hại. 

Lợi hay hại là do người đã sử dụng sắc thân một cách mê si hay trí tuệ. Mê si là nhận thức sai lầm về thân, khởi tâm dục nhiễm nên chuốc tai hoạ sa đoạ trầm luân. Trí tuệ là nhận thức đúng đắn về thân, thấy rõ họa hại của ái dục nên dè dặt không để nó sinh khởi, sử dụng thân như một phương tiện để hành đạo. Ngay nơi thân mà quán chiếu về bất tịnh, vô thường, vô ngã, thoát ly ái dục tiến đến giác ngộ giải thoát. Người học Phật dù là tại gia hay xuất gia đều phải thường tự cảnh tỉnh trước sự quyến rũ của sắc dục, không để nó mê hoặc làm mất phẩm hạnh đạo đức và tinh tấn thực hành lời Phật dạy đoạn tận gốc rễ của ái dục hầu kiến lập một đời sống trong lành, tự tại an vui ngay giữa cuộc đời này.

Nguồn: PGVN

Tham khảo thêm Tu tập | Youtube | Fanpage

Kinh Hạnh phúc – Mangala Sutta

maithengoc.com Bia sach Kinh Hanh phuc %E2%80%93 Mangala Sutta %E2%80%93 Thien su Sayadaw U Jotika

Kinh Hạnh phúc – Mangala Sutta – Sayadaw U Jotika

Nội dung Kinh Hạnh phúc

Tôi bắt đầu túc tắc dự án này, trong đó tôi tranh thủ thời gian nghe và dịch Việt các bài Pháp của Ngài Sayadaw U Jotika. Thông qua việc làm này, tôi tin rằng tôi có thể học được nhiều hơn, và nhiều hơn nữa mỗi ngày (khi tiếp tục đọc đi đọc lại, nghe đi nghe lại) từ những lời dạy sâu sắc của Ngài. Dưới đây là phần dịch Việt của Bài chú giải Kinh Mangala Sutta được thu âm vào ngày 23/06/2002.

Việc dịch thuật chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót do hạn chế về ngôn ngữ cũng như kiến thức và trải nghiệm. Xin mọi người vui lòng lượng thứ. Tôi cũng đăng ở đây (ở cuối) bài gốc tiếng Anh để các bạn có thể tham khảo.

Con xin thành kính tri ân những lời dạy quí báu của Ngài. Con cầu mong Ngài được an lành, sức khoẻ và thuận lợi nhất trên con đường tâm linh của Ngài.

Kinh Hạnh phúc – Mangala Sutta – Thiền sư Sayadaw U Jotika
Được giảng bởi Ngài Sayadaw U Jotika
Dịch Việt: Việt Hùng | Hiệu đính: Sư Tâm Pháp

Nghe đọc sách Kinh Hạnh phúc Mangala Sutta

Việt Hùng đọc

Bản Tiếng Anh

Đọc sách ebook Kinh Hạnh phúc – Mangala Sutta

Loader Loading...
EAD Logo Taking too long?

Reload Reload document
| Open Open in new tab

Tải xuống [5.90 MB]

Hạnh phúc nhờ buông xả

Buông xả_maithengoc.com

Hạnh phúc nhờ buông xả

Chất chứa

Có người nọ nghe nói về một đạo sư nổi tiếng nên tìm đến hỏi đạo. Đến nơi, anh thấy trong nhà của vị đạo sư trống trơn, chỉ có một cái giường, một cái bàn, một cái ghế và một cuốn sách. Anh ngạc nhiên hỏi: “Sao nhà đạo sư trống trơn, không có đồ đạc gì cả?” Đạo sư hỏi lại: “Thế anh có hành lý gì không?” Anh đáp: “Dạ có một va li”. Đạo sư hỏi: “Sao anh có ít đồ vậy?” Anh đáp: “Vì đi du lịch nên đem ít đồ”. Đạo sư nói: “Tôi cũng là một người du lịch qua cuộc đời này nên không mang theo đồ đạc gì nhiều”. Chúng ta thường quên mất mình chỉ là khách du lịch qua cuộc đời này, lầm tưởng mình sẽ ở mãi nơi đây, nên tham lam, ôm đồm, tích trữ quá nhiều đồ vật, tài sản. Đàn bà thì chất chứa quần áo, vòng vàng, nữ trang. Đàn ông thì máy móc, xe hơi, tivi, máy điện tử.

Tranh chấp

Mỗi khi có sự tranh chấp, buồn phiền, chúng ta thường có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác. Sau đây là ba trường hợp: a. Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng và người kia lỗi 100%. b.Người bắt đầu học đạo, biết tu thì thấy cả hai bên đều có lỗi 50%. Người hiểu đạo thì thấy mình lỗi 100%.

Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng 100%.

Do vô minh và chấp ngã quá lớn, cho mình là người quan trọng nhất, nghĩ cái gì cũng phải, cũng đúng, nên xảy ra chuyện gì trái ý cái ngã (cái ta) thì tức giận bắt lỗi người khác. Thí dụ một chuyện thật xảy ra ở Hoa Kỳ, có một bà già vào mua cà phê tại tiệm Starbucks, không biết vì lý do gì, bà uống ly cà phê bị phỏng miệng. Thế là bà nổi giận làm đơn kiện tiệm này đã bán cho bà ly cà phê quá nóng khiến bà bị phỏng miệng và đòi bồi thường hai triệu đô la. Bà ta không thấy lỗi mình là khi cầm ly cà phê lên, nếu thấy nóng thì phải biết thổi cho nó nguội rồi mới uống, đàng này có thể vì tham ăn, tham uống, thấy ly cà phê bốc mùi thơm phức, mờ mắt húp cái ực nên bị phỏng miệng. Trong khi đó biết bao nhiêu người khác uống đâu có bị phỏng? Không những không biết lỗi mình mà còn đi kiện người ta! Một chuyện khác có thật cũng xảy ra tại Hoa Kỳ. Một ông nọ đưa bộ đồ vét (veste, suit) đến một tiệm giặt ủi. Khi lấy bộ đồ về thì nhận ra cái quần không phải của mình. Ông đem trả lại tiệm và khiếu nại. Khoảng một tuần sau, chủ tiệm đưa cho ông một quần khác, nhưng ông vẫn không công nhận là quần của ông. Thế rồi ông làm đơn kiện tiệm giặt ủi. Chủ tiệm đề nghị bồi thường ông 12.000 đô la nhưng ông không chịu mà đòi 54 triệu. Đương nhiên là quan tòa đã bác đơn của ông ta.

Buông xả_maithengoc.com

Người bắt đầu học đạo và biết tu thì thấy cả hai bên đều có lỗi 50%.

Ở đây nói 50% là nói tượng trưng, vì có thể là 40% và 60%, hoặc 30% và 70%, hoặc 20% và 80%, v.v… Khi xảy ra một sự tranh chấp, cãi nhau thì đương nhiên phải có một người bắt đầu. Thí dụ như ông A và bà B cãi nhau. Ông A là người bắt đầu, nhưng nếu bà B im lặng bỏ đi, không chửi lại thì ông A không thể đứng đó chửi mãi. Nhưng nếu ông A nói một câu và bà B nói lại hai câu thì ông A sẽ tức lên nói ba câu hoặc năm, sáu câu liên tiếp. Và nếu bà B không biết ngừng thì cuộc cãi nhau sẽ leo thang. Nếu bà B biết ngừng thì cuộc khẩu chiến sẽ chấm dứt. Nhưng sau đó cả hai bên đều mang vết thương lòng và hận nhau. Về nhà, nếu bà B là 12 Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy số 28 (tháng 3) theo phattuvietnam.net người hiểu đạo thì sẽ nhận ra mình cũng có lỗi trong chuyện cãi nhau, và nếu nhận ra mình có lỗi 40% thì cơn giận của bà sẽ giảm xuống 40%. Nếu bà B nhận ra mình có lỗi 60% thì cơn giận của bà sẽ hạ xuống 60%.

Người hiểu đạo thì thấy mình lỗi 100%.

Trong một cuộc tranh chấp mà thấy mình lỗi 100% thì coi bộ lỗ quá. Nhưng nếu hiểu đạo, đạo ở đây là luật nhân quả và nhân duyên thì biết là không thể nào tự nhiên vô cớ mà người kia lại gây sự với mình. Có thể mình đã nói hoặc đã làm điều gì tổn thương người ta mà mình không nhớ. Và nếu xét cho kỹ mà vẫn không thấy mình làm gì sai quấy thì có thể đời trước, hay nhiều kiếp trước mình đã não hại người ta, nên bây giờ họ gặp lại mình thì gây sự, kiếm chuyện trả thù. Thấy mình lỗi đã là quý, nhưng nếu biết xin lỗi thì càng quý hơn vì có thể giải tỏa ân oán và oan gia. Hạnh phúc xả ly Ở đời người ta thường cho hạnh phúc là có được cái này, cái kia: Có nhà lầu, xe hơi, có vợ đẹp, con ngoan, có tài sản, quyền thế, v.v… Khi chưa có thì muốn có, làm đủ mọi cách để cho có. Có rồi thì sợ mất hoặc xem thường rồi lại muốn có cái khác. Nếu không được thì buồn phiền, bất mãn, khổ sở. Người biết tu thì thấy “không có” là một hạnh phúc. Không có ở đây là do trí tuệ quán chiếu thấy mọi sự phiền toái đều do ham muốn mà ra. Bởi thế người tu không muốn có, nếu đã có rồi thì tập xả ly. Vì những thứ “có” trên thế gian này đều là ràng buộc. Tuy nhiên, đối với những người chưa có, chưa thỏa mãn được những mong ước, thèm khát, còn mải mê chạy theo vật chất thì xả ly là một việc thật khó làm, vì họ chưa có thì lấy gì mà xả bỏ. Ðức Phật khi còn là thái tử đã có vợ con, vàng bạc, của cải, cung phi mỹ nữ, đầy đủ vật chất mà trong lòng vẫn nặng trĩu âu lo, không cảm thấy hạnh phúc. Do đó, Ngài mới xả bỏ ra đi tìm chân lý, tìm hạnh phúc chân thật. Trong khi đó có những người tu lại chạy theo vật chất, của cải, tài sản, danh lợi bởi vì trong đời họ chưa được thỏa mãn, chưa cảm thấy có đầy đủ. Chỉ khi nào có được rồi và trải qua kinh nghiệm thấy những thứ mà họ đã nhọc công tìm kiếm chỉ đem lại phiền toái và khổ đau thì lúc đó ý nghĩ xả ly mới xuất hiện. Trước hết, có thân thì phải lo cho thân ăn, mặc, ở, sống. Phải đi làm kiếm ăn, phải mua quần áo mặc, phải thuê nhà ở tránh mưa nắng. Khi thân đau ốm phải lo thuốc men, chạy chữa. Nếu có gia đình thì phải lo làm ăn buôn bán kiếm tiền nuôi vợ con. Suốt ngày chỉ lo suy nghĩ và làm đủ mọi chuyện cho cái ta và những thứ của ta. Hạnh phúc xả ly tương đương với thiểu dục tri túc, có nghĩa là tâm không ham muốn,và luôn cảm thấy đầy đủ dù trong tay không có gì hết. Với người tu, không có sở hữu gì thật là một hạnh phúc. Nói như vậy có vẻ ngược đời, nhưng người tu là kẻ đi ngược dòng đời kia mà! Xả ly giống như người đang mang gánh nặng trên vai mà đi, nay bỏ được gánh nặng xuống thì cảm thấy nhẹ nhàng sung sướng vô cùng.

Người tu cần tập xả ly, vì xả nhiều chừng nào thì nhẹ chừng nấy. Xả ly không có nghĩa là phải vứt bỏ hết tài sản, của cải đang có. Xả ly trước hết là xả bỏ sự ham muốn và buồn giận trong tâm, kế đến là xả bỏ sự bám víu vật chất bên ngoài. Tuy sống giữa tài sản, vật chất, nhưng tâm không còn nhớ nghĩ những thứ đó là của ta, nếu có ai xin hoặc mất thì xem như nhẹ gánh nặng. Tập xả ly tới mức cùng cực thì khi chết, ta xem như trút hết gánh nặng, nhất là cái thân tứ đại già yếu, bệnh hoạn. Ta đã phải mang nó trên vai suốt cả cuộc đời, nay bỏ được nó, há không phải là sung sướng lắm sao?

Vì thế các thiền sư đắc đạo, khi chết đều vui vẻ an nhiên tự tại ra đi. Khi đói thì ta thèm ăn, nhưng khi ăn thì đòi thứ này thứ kia rồi ăn cho cố, đau bụng, nặng bụng, khó thở. Khi khát thì thèm uống, nhưng khi uống thì thích những thứ độc hại như rượu bia, rồi say mèm, ói mửa. Nhiều khi sinh ra ung thư hay sưng gan. Người tu là người đi tìm hạnh phúc chân thật, hạnh phúc này chỉ có khi tâm không còn bám víu, dính mắc, thèm khát mọi sự vật trên đời này. Như vậy, hạnh phúc chính là sự giải thoát của tâm ý. Và muốn có giải thoát thì phải tập xả ly. Hãy nhìn vào tự tâm, xem mình còn bám víu, dính mắc, ưa ghét cái gì không? Có người xả bỏ được vợ con nhưng lại dính mắc vào chùa chiền, xả bỏ được tài sản nhưng lại dính mắc vào danh lợi, địa vị. Xả bỏ được cái này nhưng rồi lại dính mắc vào cái khác!.

Nguồn: PGVN

Tham khảo thêm Tu tập | Youtube | Fanpage

Nên thay đổi cúng dường để giữ sức khoẻ cho Tăng ni

Nen thay doi cung duong de giu suc khoe cho Tang ni 1

Nên thay đổi cúng dường để giữ sức khoẻ cho Tăng ni

Cúng dường mùa An cư

Một mùa an cư kiết hạ vừa trở về trong bao nổi hân hoan chờ đón của tất cả tăng ni Phật tử. Đây là ba tháng chuyên tu tăng tuổi đạo trao dồi hạnh đức mà bất cứ một người tu hành nào cũng đều phải trải qua. Hàng Phật tử tại gia xem đây là thời gian để dâng cúng những gì tốt đẹp nhất lên Tam Bảo mong nhờ sức tu trì của quý tăng ni hòng mang thêm chút duyên lành.

Là Phật tử, cúng dường tam bảo vừa là một phước ân, vừa là một nghĩa vụ. Tất cả đều ở tâm tùy hủy không phân biệt, không chỉ là cúng dường tịnh tài tịnh vật chu toàn đời sống quý vị xuất gia còn là những nhu yếu phẩm cần thiết khác để xây dựng nên đạo tràng. Phật tử cứ tùy tâm, nếu không cũng có thể góp sức làm Phật sự, công quả, nấu cơm, phát quà, dọn dẹp bổn tự, bảo vệ chùa chiền. Đó đều là những hạnh cao cả tốt đẹp của tứ chúng đồng tu.

Nên thay đổi cúng dường để giữ sức khoẻ cho Tăng ni

Cúng dường Tam Bảo

Thông thường nghĩ đến cúng dường tam bảo, mọi người đều nghĩ ngay đến cúng tiền, gạo, mỳ gói, dầu ăn, đường, hoa quả, trái cây, rau củ, bột ngọt, xà phòng, nhang, đèn. Nếu chùa có xây dựng sẽ cúng dường những vật liệu hay công sức góp vào. Mùa an cư kiết hạ hay những lễ cúng trai tăng, ngoài tịnh tài thường luôn kèm khăn, kem đánh răng, bàn chải đánh răng, tập viết, đặc biệt là y áo. Một số vận động cúng kinh sách, tượng, tranh ảnh, băng đĩa, hùn phước phóng sanh, phát cơm từ thiện. Tất cả đều là những việc làm tốt đẹp thể hiện hạnh lành của người Phật tử.

Những việc cúng dường cứ thế tiếp diễn, năm nọ tháng kia gần như không có gì thay đổi dù đời sống ngày càng hiện đại. Một số Phật tử thân cận với chùa mới biết chùa cần gì để cúng những thứ cần thiết. Tuy nhiên, đa phần Phật tử chỉ cúng như thông lệ, gần như không biết những thứ mình cúng có cần thiết cho chùa hoặc chùa đang cần gì. Quý tăng ni với tâm không biệt, không đòi hỏi nên Phật tử cúng gì nhận đó và cũng ngại góp ý với Phật tử sợ sẽ bị hiểu lầm người xuất gia đòi hỏi, yêu sách Phật tử.

Tuy nhiên, nếu quý Phật tử đi sâu nhìn vào bổn tự sẽ thấy quý tăng ni hiện bị bệnh rất nhiều, nhất là các bệnh như tiểu đường, cao huyết áp, đau nhức, cao mỡ trong máu và béo phì. Đây thường là những bệnh dành cho người ở ngoài với đời sống sung túc, ăn uống dư thừa, đặc biệt là các thực phẩm đồ hộp, đồ ăn nhanh đầy chất béo đường. Người xuất gia ăn chay thanh đạm thế tại sao lại bị bệnh này quá nhiều? Có nhiều nguyên nhân nhưng cốt tủy ở chế độ dinh dưỡng thiếu đúng đắn.

Theo thống kê ở Thái Lan, bệnh béo phì và nguy cơ bị tiểu đường ở các nhà sư là khoảng gần 50% dù các nhà sư chỉ ăn một bữa trước ngọ. Đó cũng là do các thực phẩm cúng dường toàn chất ngọt béo cùng với việc uống các loại nước ngọt, nước tăng lực như bò húc để tăng sức khỏe nhưng thật sự đó là những loại nước có chất kích thích.Thêm vào đó, với sự thiếu vận động thể dục thể thao, thiếu kiến thức về sức khỏe, dinh dưỡng, tình trạng bệnh xảy ra ở giới xuất gia rất nhiều, không chỉ ở Thái Lan mà ở các quốc gia khác cũng vậy.

Hiện trạng Cúng dường ở Việt Nam và sức khoẻ của Tăng ni

Thế còn ở Việt Nam thì sao? Dù chưa có một cuộc nghiên cứu chính xác nhưng con số này chắc không hề thấp, dù là chùa có được cúng dường đầy đủ, sung túc hay thiếu kém, tình trạng cũng không khá hơn. Hãy thử nhìn vào những bữa ăn ở chùa quý vị sẽ thấy. Ba bữa ăn đều là cơm trắng, một ít canh, một ít rau, đậu hủ có thể kho hay chiên, khá hơn có thể thêm nấm, một chút trái cây.

Ở các bữa cúng trai tăng hay trai phạm, húy kỵ, lễ tết giỗ chạp có thể khá hơn, đồ ăn nhiều hơn, thay cơm bằng bánh mỳ, bún, phở, bánh trái rất nhiều. Nhìn có vẻ rất sung túc, rất ngon. Tuy nhiên, tất cả đều là những loại thức ăn quá nhiều chất đường, nhiều tinh bột, nhiều dầu mỡ, dư thừa năng lượng trong khi các loại khoáng chất, vitamin, chất đạm đều bị thiếu trầm trọng.

Có chùa Phật tử cúng quá nhiều gạo trắng không có chỗ chứa dẫn đến hư mốc, phải mang đi cúng dường các nơi. Rau quả có khi Phật tử gởi cúng về đã hư thối, rất nhiều chùa không có điều kiện để giữ lạnh rau củ quả nên dẫn đến hư mục, lên mốc, gây hôi thối cho chùa, cho người nấu ăn và quý tăng ni phải ăn đồ hư thiu như vậy.

Dầu ăn được cúng dường cho chùa không phải tất cả đều là dầu tốt, dầu có nhiều thành phần chất béo không no để bảo vệ tim mạch. Ở chùa khi nấu ăn, vì chiên xào quá nhiều và chiên đến lúc hết dầu, sử dụng dầu trở lại ngày nọ tháng kia làm cho các độc chất từ dầu đi vào tim mạch gây cao mỡ trong máu, nghẽn tim, nhồi máu cơ tim.

Ở các chùa thôn quê, chùa ở miền núi, không có khả năng đi chợ, gần nơi có thể có thực phẩm nên đồ ăn cứ kho chiên ngày nọ tháng kia đến khi nào hết mới thôi. Vì vậy đồ ăn rất mặn, không còn dinh dưỡng, các loại dầu đã chuyển thành độc chất, dù biết vậy nhưng đành nhắm mắt để ăn với cơm hay chút rau luộc qua ngày.

Có chùa vì không đủ nhân lực để lo tam bảo nói chi đến việc cơm nước nên thay bằng mì gói cho bữa sáng hoặc dùng mì gói nấu làm canh ăn với cơm. Vả lại cứ mỗi khi quý Phật tử đến cúng chùa đều luôn mang cúng mỳ gói nên phải tìm cách tiêu thụ. Tuy nhiên, mỳ gói với quá nhiều chất bảo quản, nhiều lớp dầu bám thấm bên ngoài hay trong gói gia vị toàn bột ngọt, chất béo sẽ gây bệnh trầm trọng thêm.

Các loại nước uống hiện nay cũng là một phần gây bệnh rất nhiều. Nhiều quý tăng ni sử dụng nước ngọt, các loại nước ép đóng chai công nghiệp chỉ có hương liệu trái cây nhưng toàn đường hóa học, các loại nước tăng lực nhưng thật sự là có chất kích thích chỉ toàn đường, gây béo phì và tiểu đường rất cao. Ở các buổi lễ thay bằng các loại nước pha trái cây nhiều đường, các loại chè, chè Thái, nước viên sủi bọt đầy đường. Nhiều quý Phật tử vì thương quý thầy và đa phần với tâm lý chung của người Việt, cái gì nhiều tiền đều là tốt nên thay bằng nước yến, nước lon, nước sâm. Tuy nhiên, dinh dưỡng trong các loại nước này rất thấp, chỉ đa phần toàn đường với các loại năng lượng vô ích chỉ làm tăng bệnh tăng cân mà thôi.

Tôi có dịp xem khá nhiều hồ sơ bệnh án của quý tăng ni, đến chùa tư vấn trực tiếp, kể cả trên mạng, gần gũi với các chùa, tìm hiểu đời sống ở chùa cùng nhiều sự suy tư của các vị xuất gia, tôi rất chạnh lòng. Tôi đã cúng dường thuốc cũng như rất hoan hỷ sẵn sàng tư vấn bệnh cho quý Ngài mọi lúc mọi nơi trong nhiều năm qua. Khi về Việt Nam, tôi đều cố gắng đến chùa tự phát tâm xin được giảng nói về dinh dưỡng sức khỏe, khám bệnh trả lời trực tiếp. Tuy nhiên, đó chỉ là những việc bé nhỏ không đáng và tất cả lại đâu trở vào đấy. Nguyên gốc của vấn đề ở chế độ dinh dưỡng, vận động, vệ sinh môi trường nhưng chỉ biết lặng nhìn vì không biết phải làm sao.

Là một Phật tử, cũng là một thầy thuốc, tôi luôn hoan hỷ làm những điều cần thiết và luôn cầu mong cho tất cả quý tăng ni Phật tử đều khỏe an để phụng sự tam bảo. Đó là ân phước của tôi và tôi tin quý vị cũng như tôi vậy. Xin cho tôi được góp ý thành tâm về một số vấn đề quý Phật tử nên cúng dường những nhu yếu phẩm nào cần thiết cho chùa để giữ gìn sức khỏe cho quý tăng ni, tránh cúng dường thừa gây hư hao, lãng phí. Xin quý vị hoan hỷ thứ tha nếu như có điều gì không đúng hoặc chưa thực tế với đời sống của người Việt Nam.

Nên thay đổi cúng dường để giữ sức khoẻ cho Tăng ni

Các ưu tiên nên sử dụng Cúng dường để giữ sức khoẻ cho Tăng ni

Rau củ quả sạch

Thực phẩm xanh và sạch gần như không chỉ thiếu ở chùa mà trong các gia đình Phật tử Việt Nam. Tuy nhiên, khi cúng dường chùa, chúng ta nên cúng loại rau quả còn tươi, sạch, có thể nấu dùng được hay dự trữ được một vài hôm nếu có thể. Rau quả xanh cung cấp rất nhiều chất xơ, chất khoáng, vitamin, tăng khả năng đề kháng. Tất cả mọi loại rau quả đều là cần thiết. Một số loại rau củ cần thiết giàu dinh dưỡng, chất đạm như đậu que, đậu đũa, bông cải xanh, rau lang, đập bắp và các loại rau luộc. Nếu quý tăng ni ăn kiêng sẽ dễ dàng hơn khi ăn nhiều rau đậu thay cho ăn cơm.

Yến mạch , bột ngũ cốc và đậu nành

Yến mạch là một loại thực phẩm tốt nhất theo tổ chức y tế thế giới. Trong yến mạch có hàm lượng các loại chất dinh dưỡng, chất đạm, chất khoáng, sắt, ít chất béo, các loại chất xơ cần thiết cho cơ thể. Đây có thể là thực phẩm lý tưởng cho những người bị bệnh tiểu đường, cao huyết áp, cao mỡ trong máu hay bất cứ mọi người để ngăn ngừa bệnh.

Thật ra hai loại thực phẩm chay tốt nhất thế giới chính là đậu nành và diêm mạch. Lý do tôi khuyên cúng và dùng yến mạch bởi vì diêm mạch không phổ biến ở Việt Nam, khó nấu hay mất thời gian hơn. Đậu nành là thực phẩm rất tốt nhưng nhiều người không thể sử dụng đậu nành thay cơm.

Yến mạch giá không cao và đã được mang về Việt Nam bán khá nhiều. Yến mạch có thể thay cho cơm hoặc ăn bữa sáng. Nấu yến mạch rất nhanh, chỉ vài phút hoặc có thể dùng lò vi sóng để nấu rất tiện lợi. Mỗi lần sử dụng không nhiều và có thể dùng được lâu.

Bột ngũ cốc nguyên chất hay các sản phẩm từ các loại hạt đậu nành nên được dâng cúng hay sử dụng. Quý tăng ni nên sử dụng thêm bột ngũ cốc để tăng cường chất đạm và các loại dinh dưỡng khác. Các loại sữa không đường từ đậu nành, sản phẩm từ đậu nành nên sử dụng vì đậu nành là thực phẩm chay tốt nhất và duy nhất cung cấp đầy đủ các loại amino acid cần thiết tái tạo chất đạm. Đậu nành không hề gây ra các loại bệnh hay làm tăng bệnh ung thư vú, ung thư tuyến liền liệt như nhiều người lầm tưởng mà bảo vệ các loại bệnh này.

Do đó, thay vì chỉ cúng gạo trắng, mỳ gói quá nhiều hay các loại sâm yến quá đắt tiền không mang lại dinh dưỡng dài lâu, quý vị nên thay bằng cúng gạo lứt và yến mạch, ngũ cốc, sữa bột, sữa đậu nành không đường sẽ giúp tăng cường sức khỏe, tránh lãng phí. Tôi đã cúng dường yến mạch cho quý tăng ni nhiều năm qua, đặc biệt là ở các chùa trên núi và quý tăng ni rất thích, ăn vào đỡ bệnh. Tôi cũng khuyến khích quý tăng ni nên sử dụng yến mạch và ngũ cốc nhiều hơn. Người Mỹ thường dùng yến mạch vào buổi sáng còn tôi sử dụng yến mạch cả ngày thay cơm.

Thuốc, Vitamin B12 và sắt

Thực phẩm chay gần như không có vitamin B12. Vitamin B12 rất quan trọng để tái tạo hồng huyết cầu, bảo vệ sức khỏe của não, tổng hợp thông tin di truyền DNA, giảm bệnh mất trí, giúp quá trình trao đổi chất tốt hơn. Về thuốc men các loại bệnh phải đến gặp bác sĩ. Tuy nhiên, quý vị có thể cúng dường cho chùa Vitamin B12, viên uống hay viên ngậm đều được và tôi khuyên tất cả những người ăn chay đều nên sử dụng vitamin B12. Liều lượng có thể 1000mcg mỗi ngày hay 5000mcg mỗi tuần, tùy sự thiếu hụt khi kiểm tra.

Đồ ăn chay cũng không nhiều chất sắt. Quý thầy có thể không bị thiếu hụt về sắt nhiều như quý cô bởi vì người nữ phải mang chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng bị mất máu gây mất sắt. Khi mệt mỏi hoặc khám sức khỏe nếu thiếu máu nên yêu cầu bác sĩ kiểm tra sắt, folate và vitamin B12. Nếu không thể kiểm tra có thể uống viên sắt mỗi ngày trong khi hành kinh và ba lần mỗi tuần. Tôi khuyên nên kiểm tra lượng sắt vì nếu lượng sắt quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và các cơ quan khác.

Với những tăng ni bị suy nhược, quý vị có thể cúng các loại thuốc bổ tổng hợp multivitamin, hoặc nếu đau nhức có thể cúng canxi +vitamin D, glucosamine đều được. Tuy nhiên, quý tăng ni nên kiểm tra xét nghiệm sức khỏe định kỳ

Omega 3 chay thay cho viên dầu cá

Vì quý tăng ni bệnh tim mạch và lượng mỡ trong máu, hàm lượng triglyceride khá cao do sử dụng tinh bột nên cần sử dụng viên Omega 3. Rất nhiều các sản phẩm Omega 3 là chiết xuất từ các loại cá, dầu cá hồi hoặc tổng hợp. Nhiều khi chúng ta không để ý khi cúng, sử dụng cũng không sao. Tuy nhiên, vì quý tăng ni ăn chay tu hành, quý vị nên chọn cúng loại Omega 3 chay như là từ hạt lanh Flaxseed Oil. Bơ hay các loại hạt điều, óc chó, hạnh nhân, đậu, hạt chia, bí đao đều có rất nhiều Omega 3.

Gạo – nên cúng gạo lứt

Quý vị nên hỏi ở chùa có thiếu gạo không và nên chọn gạo tốt để cúng. Thay vì chỉ cúng gạo trắng, quý vị nên cúng thay với gạo lứt vì có thêm dinh dưỡng, có chất xơ, các loại vitamin, ít đường. Ở chùa cũng nên luân phiên thay các bữa nấu với gạo lứt để giảm bệnh. Với người bị bệnh tiểu đường cần phải hạn chế ăn cơm trắng, bánh mỳ, phở, bún.

Lưu ý về Dầu ăn

Khi chọn các loại dầu ăn, quý vị nên chọn cúng các loại dầu tốt như dầu mè, dầu nành, dầu Olive, dầu Canola, các loại dầu có hàm lượng chất béo không no cao như polyunsaturated fat hay monounsaturated fat. Quý vị nên nhìn vào nhãn thực phẩm để chọn dầu. Không nên chọn các loại dầu hay các loại thức ăn có trans fat vì đây là các loại chất béo cực độc gây bệnh cho cơ thể. Không nên chiên dầu ở nhiệt độ cao, nhất là dầu Olive rất dễ cháy khi chiên. Không nên sử dụng dầu chiên quá hai lần hay sử dụng khi dầu bị đục vì dầu sẽ chuyển thành độc chất gây hại cho cơ thể. Nên hạn chế các loại thức ăn chiên xào quá nhiều.

Cúng tịnh tài thay cho y áo, vải, khăn, kem đánh răng

Thường trong các lễ cúng trai tăng, ngoài cúng tịnh tài đều có một món quà khác như dâng y, các đồ dùng khác như vải, kem đánh răng, bàn chải đánh răng, tập viết để làm quà, vừa nhìn trang trọng, đẹp mắt. Trên mạng tôi thường thấy có rất nhiều bạn kêu gọi hùn phước dâng y, từ vài chục, thậm chí vài trăm y cho các trường hạ. Mùa an cư kiết hạ thì không thể nào thiếu việc dâng y.

Nếu ở các chùa ít cúng trai tăng hay thiếu kém, điều này là hợp lý. Tuy nhiên, ở các chùa hay các nơi thường xuyên cúng trai tăng dâng y, những vật dụng này trở nên thừa. Có vị nói với tôi sau mùa an cư không biết mang đi đâu để tặng bớt vải vóc, các vật dụng khác nêu trên vì cả chùa ai cũng thừa đầy, có khi tặng lại cho Phật tử. Tuy nhiên, vải y của người xuất gia không biết mang đi đâu ngoài tặng cho các chùa ở xa hay nghèo. Chưa kể hiện nay, vải vóc rất tốt, đâu dễ hư rách như ngày xưa.

Ngày xưa khi thấy các cô trên núi không có vải y tốt, lại thường xuyên lao động nên tôi phát tâm cúng y hàng năm mà không hỏi ý. Tuy nhiên chừng hai ba năm, tôi thật sự không biết liệu các cô có thật sự cần y áo không nên hỏi trực tiếp. Các cô đều bảo rằng thiếu nhất là không có tịnh tài để có thể chi dùng cho cuộc sống, khám chữa bệnh chứ y áo không thiếu vì không hư. Tôi cũng nghĩ vậy và từ đó chỉ cúng tịnh tài, dù không nhiều nhưng tôi nghĩ đó là thực tế hơn.

Vì vậy tôi nghĩ quý vị khi phát tâm cúng gì cho chùa nên tìm hiểu hoặc hỏi xem quý tăng ni cần gì để cúng như thế cả hai đều vui hơn chỉ cúng thứ mình cần cúng gây dư thừa không uổng phí vô cùng. Có thể tôi hơi thực tế nhưng có lẽ cúng tịnh tài, các loại thực phẩm thuốc men cần thiết là dễ sử dụng và tốt nhất vì rất nhiều quý tăng ni hiện nay bị bệnh nhưng không có tịnh tài để chữa bệnh hay mua thực phẩm ăn uống giữ sức khỏe.

Những thứ không nên Cúng dường để giữ sức khoẻ cho Tăng ni

Bột ngọt

Bột ngọt không tốt, thường gây ra các bệnh dị ứng, đau nhức, mệt mỏi, nóng bức, khó tiêu, nhất là ở những người bị bệnh tim mạch hay bệnh gan hoặc ở người lớn tuổi. Tuy nhiên, các chùa cũng hay dùng và Phật tử thay vì cúng các loại bột nêm nấm thay thế đều mang cúng bột ngọt rất nhiều. Các loại nước tương được cúng cho chùa không phải đều là loại nước tương chọn lọc, ít muối, ít chất nêm, có khi là nước tương lít, nước tương không rõ nguồn gốc. Chao và tương nếu quá nhiều muối quá mặn cũng chính là nguyên nhân gây ra các bệnh cao huyết áp và tim mạch cho người xuất gia.

Không nên cúng bột ngọt cho chùa và quý vị cũng không nên sử dụng bột ngọt rất dễ gây bệnh. Quý vị nên thay bằng các loại hạt nêm chiết xuất từ rau của quả hay nấm. Không phải các loại hạt nêm này là không có thành phần của bột ngọt nhưng thấp hơn, ít gây bệnh và tiêu hóa dễ dàng hơn. Quý vị cúng ít nhưng chùa có thể sử dụng và an toàn vẫn tốt hơn.

Mỳ gói

Quý vị nên hạn chế hoặc chọn các loại mỳ ít có thành phần chất béo, các gói hạt nêm không tốt. Thay vì cúng mỳ gói, quý vị cúng ngũ cốc, các loại hạt có chất đạm như đậu nành, bột đậu nành, đậu xanh, hạt điều hay các loại bột ngũ cốc khô để có thêm chất đạm.

Đường

Đường tinh luyện trắng nhìn rất đẹp, có thể để dùng nấu một số loại thức ăn không làm ảnh hưởng màu sắc nhưng hạn chế. Đường nâu nguyên chất chưa bị tinh luyện qua hóa chất an toàn hơn, hương vị khi nấu cũng ngọt ngào thơm ngon hơn. Tuy nhiên, nên hạn chế nấu hay sử dụng các loại đồ ăn quá ngọt và hạn chế đồ béo ngọt.

Hạn chế nước cốt dừa

Các loại món ăn Việt Nam, chè, cà ri, bánh trái đều bỏ rất nhiều nước cốt dừa hay sợi dừa. Nước dừa tươi rất tốt và ngon. Tuy nhiên, nước cốt dừa chỉ toàn là chất béo no rất dễ gây bệnh tim mạch, cao mỡ trong máu. Do đó nên hạn chế sử dụng nước cốt dừa.

Nước ngọt/nước tăng lực

Nên hạn chế và tốt nhất không nên cúng dường các loại nước ngọt. Thành phần nước ngọt, nước tăng lực với một số chất kích thích hay hàm lượng đường rất cao rất không tốt cho sức khỏe, dễ gây nghiện, tạo thói quen. Trong các loại nước ngọt như Coca Cola có hàm lượng caffeine như trong cà phê dễ gây mất nước, khó ngủ, kích thích tim mạch. Nước ngọt cung cấp năng lượng thừa gây béo phì. Kể cả nước yến, quý vị cũng nên hạn chế đừng nên lạm dụng. Thay vào đó, nên uống nước lọc, cúng hoa quả tươi, các viên vitamin C sủi bọt để uống tăng sức khỏe. Nếu được nên giúp chùa có hệ thống lọc nước sạch, khử kim loại nặng, khử mùi để sử dụng an toàn.

Không nên cúng dường thuốc lá – Cẩn thận với nhang thơm

Thuốc lá vô cùng độc hại, tàn phá cơ thể vì chứa hơn 4000 hóa chất gây đủ các loại bệnh cho cơ thể. Một số quý tăng sĩ vẫn còn hút thuốc và tôi luôn khuyên các vị nên hạn chế dẫn đến bỏ thuốc lá. Là Phật tử, nhất thiết chúng ta không nên cúng dường thuốc lá cho chùa vì chính là tiếp tay gây bệnh.

Khi cúng dường nhang, quý vị cũng nên chọn loại nhang ít tổng hợp và không có hóa chất, nhang nhỏ hay nhang hương liệu tự nhiên. Khói nhang rất độc, đặc biệt là các loại nhang tổng hợp, các loại nhang đủ mùi tổng hợp với nhiều độc chất có thể gây ra dị ứng, các bệnh về phổi và ung thư. Nên hạn chế đốt quá nhiều nhang hay ngửi quá nhiều hương nhang.

Nên xem lại việc cúng quá nhiều kinh sách, tranh, tượng, băng đĩa

Là Phật tử luôn được giảng dạy hay đọc sách chỉ dẫn cúng dường kinh sách băng đĩa, hay cúng dường pháp công đức vô lượng. Tôi nghĩ thời Đức Phật ngày xưa việc in chép ấn tống kinh sách quá khó khăn nên rất cần những người phát tâm ấn tống. Tuy nhiên hiện nay, chỉ cần lên mạng không thiếu thứ gì. Kinh sách đều có đầy hết các cửa hàng, nhà sách. Tượng Phật, pháp bảo mọi chủng loại của nhiều nước đầy khắp không thiếu gì cả. Có nơi phát miễn phí rất nhiều băng đĩa, Phật tử mang về để ở nhà không buồn mở ra hay pháp bảo đầy nhà không chỗ chứa.

Trừ ở các vùng sâu, vùng xa hay một số người nghèo thiếu khả năng có thể cần thêm pháp bảo. Tôi nghĩ hiện nay pháp bảo đến dư thừa. Mùa an cư Phật tử hăm hở làm phát tặng hàng ngàn, hàng chục ngàn tượng Phật lớn nhỏ, kinh sách in ấn đến đầy xe chở khắp các chùa dù chùa không có chỗ chứa. Tất cả đều ở sự thành tâm. Có quý vị tăng ni còn nói với tôi mới cản hôm trước hôm sau đã có cả một xe kinh sách, phát tặng Phật tử rồi lâu lâu Phật tử mang trở lại cúng chùa rất buồn cười.

Tôi nghĩ nếu được chúng ta cũng nên tìm hiểu nơi chùa, đạo tràng, trường Phật học mình muốn đến cúng hiện đang cần gì, có thiếu kinh sách gì thay cho việc chúng ta chỉ cúng những gì chúng ta muốn trong khi nhu cầu của chùa không có. Thay vào đó, tiền để ấn tống pháp bảo tượng không cần thiết chúng ta cũng có thể góp với chùa để chỉnh trang nhà ăn, nhà vệ sinh được sạch sẽ, thay thế chén bát, xoong chảo nấu nướng ở chùa, sửa chữa bàn ghế hư hỏng, hùn phước cho các vị tăng ni khám chữa bệnh, xét nghiệm, giữ sức khỏe sẽ thiết thực hữu hiệu hơn.

Nếu quý vị thích cúng sách, pháp bảo, quý vị có thể cúng dường hay làm thêm những sách Phật giáo cho trẻ em, tặng cho các cháu nhỏ, xây dựng thư viện kinh sách, phòng đọc sách ở chùa để các Phật tử, kể cả các cháu nhỏ đều có nơi tìm đến nghiên cứu, học hỏi.

Cúng dường tam bảo là một việc làm cao đẹp và là bổn phận của Phật tử để đắp bồi dựng xây tam bảo. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên tùy theo hoàn cảnh, thời thế, tùy theo nhu cầu thiết yếu của từng chùa để phương tiện cúng dường cho hợp lý và hiệu quả để những vật lực và sức lực của mình được sử dụng trong sự hoan hỷ, vui vẻ, tránh lãng phí dư thừa. Nếu chúng ta cúng dường đúng đắn, nhất là các vật thực hằng ngày sẽ giúp bảo vệ sức khỏe cho quý tăng ni, tránh thêm nhiều vấn đề và chi phí phát sinh về sau càng thêm sầu khổ.

Cầu chúc cho tất cả các bạn cùng gia đình thêm nhiều phước duyên, tinh tấn tu hành, mãi luôn khỏe an. Nguyện cầu cho tất cả quý tăng ni một mùa an cư kiết hạ đầy hùng lực tu hành để thêm một tuôi hạ viên mãn.

Nguồn: Linh Sơn Phật Giáo

Tham khảo thêm Tu tập | Youtube | Fanpage