Giải thích phạm giới Dễ duôi uống rượu và các chất say

Giai thich pham gioi De duoi uong ruou va cac chat say maithengoc.com

Giải thích phạm giới Dễ duôi uống rượu và các chất say

Điều Giới Uống Rượu, Bia

Điều-giới uống rượu, bia và các chất say liên quan đến uống rượu, bia và các chất say là nhân sinh sự dể duôi (thất niệm) trong mọi thiện- pháp, có 2 loại nghiệp:

–    Người giữ gìn điều-giới tránh xa sự uống rượu, bia và các chất say, không uống rượu, bia và các chất say, tạo dục-giới đại-thiện-nghiệp không uống rượu, bia và các chất say.

–    Người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, tạo ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say.

Quả của đại-thiện-nghiệp không uống rượu, bia và các chất say với quả của ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say là hoàn toàn trái ngược lẫn nhau.

Giải thích phạm giới Dễ duôi uống rượu và các chất say

*Quả Báu Của Đại-Thiện Nghiệp Của Người Không Uống Rượu, Bia Và Các Chất Say

Người nào giữ gìn ngũ-giới trong sạch và trọn vẹn, trong đó có điều-giới “có tác-ý tránh xa sự uống rượu, bia và các chất say…”.

–  Sau khi người ấy chết, dục-giới đại-thiện- nghiệp không uống rượu, bia và các chất say ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người trong cõi người này.

–  Hoặc sau khi người ấy chết, dục-giới đại- thiện-nghiệp không uống rượu, bia và các chất say ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau làm vị thiên-nam hoặc vị thiên-nữ trong cõi trời dục- giới, hưởng mọi sự an-lạc trong cõi trời ấy cho đến hết tuổi thọ.

Sau khi vị chư-thiên chết tại cõi trời ấy, nếu trường hợp dục-giới đại-thiện-nghiệp không uống rượu, bia và các chất say ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người trong cõi người này.

Thì cả hai trường hợp này, người ấy sẽ có được quả báu tốt của dục-giới đại-thiện-nghiệp không uống rượu, bia và các chất say trong kiếp quá-khứ của người ấy, đáng hài lòng.

Trong Chú-giải Khuddakapātha giảng giải về 30 quả báu của dục-giới đại-thiện-nghiệp không nói-dối trong kiếp quá-khứ như sau:

Kiếp hiện-tại của người ấy

1-   là người có trí-tuệ sáng suốt, hiểu biết mọi công việc đã làm, đang làm và sẽ làm.

2-   là người thường có trí nhớ.

3-   là người không loạn trí, điên cuồng.

4-   là người có trí-tuệ, thông minh, nhạy bén.

5-   là người có sự tinh-tấn không ngừng.

6-   là hạng người có tam-nhân (vô-tham, vô- sân, vô-si) từ khi đầu thai.

7-   là người không bị câm điếc, từ khi đầu thai.

8-   là người có trí-tuệ sáng suốt, không mê muội.

9-   là hạng người không dể duôi trong mọi thiện-pháp.

10- là hạng người đa-văn túc-trí, học nhiều hiểu rộng.

11- là người có thân hình đầy đủ, cân đối các bộ phận lớn nhỏ xinh đẹp.

12- là người ít gặp tai nạn.

13- là người ít có sầu não, khổ tâm.

14- là người thường nói lời chân-thật, đáng tin.

15- là người không nói lời chia rẽ, không nói lời thô tục, không nói lời vô ích.

16- là người có sự tinh-tấn không ngừng ngày đêm trong mọi công việc phước-thiện.

17- là người có lòng biết ơn và biết đền ơn đối với người ân nhân của mình.

18- là người hiểu biết mọi công việc đã làm.

19- là người không có tính keo kiệt, bủn xỉn của cải của mình.

20- là người có tâm hoan hỷ trong việc làm phước-thiện bố-thí của cải đến cho người khác.

21- là người có giới hạnh đầy đủ và trọn vẹn.

22- là người trung thực với mình và mọi người.

23- là người ít sinh tâm sân hận.

24- là người biết hổ-thẹn tội-lỗi, không dám làm ác.

25- là người biết ghê-sợ tội-lỗi, không dám làm ác.

26- là người có chánh-kiến thấy đúng, có khả năng thấy rõ, biết rõ thật-tánh của các pháp.

27- là người có nhiều phước-thiện cao thượng.

28- là người có nhiều trí-tuệ, hiểu biết các pháp.

29- là bậc thiện-trí hiểu biết phân biệt được điều lợi, điều hại, điều chánh, lẽ tà,…

30- là bậc thiện-trí biết sự lợi ích kiếp hiện- tại, sự lợi ích kiếp vị-lai, sự lợi ích tối-thượng Niết-bàn.

Đó là 30 quả báu tốt của dục-giới đại-thiện- nghiệp không uống rượu, bia và các chất say mà tiền-kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá-khứ.

*Quả Xấu Ác-Nghiệp Của Người Phạm Điều- Giới Uống Rượu, Bia Và Các Chất Say

Người nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say dù ít dù nhiều cũng tạo ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say.

–   Nếu là ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say nặng, thì người ấy sau khi chết, ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi ác-giới, chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy, mới thoát khỏi được cõi ác-giới.

Sau khi thoát khỏi cõi ác-giới, trường hợp nếu có dục-giới đại-thiện-nghiệp nào khác có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người.

–   Và trường hợp, nếu người nào phạm điều- giới nói-dối, tạo ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say nhẹ, người ấy sau khi chết, ác- nghiệp uống rượu, bia và các chất say ấy không có cơ hội cho quả tái-sinh, mà dục-giới đại- thiện-nghiệp nào khác có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người.

Thì cả hai trường hợp này, người ấy còn phải chịu quả xấu của ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say trong kiếp quá-khứ của người ấy.

Quả xấu của ác-nghiệp uống rượu,  bia  và các chất say có 30 quả xấu là hoàn toàn trái ngược với quả tốt của đại-thiện-nghiệp không uống rượu, bia và các chất say như sau:

Kiếp hiện-tại của người ấy

1- là người không biết những công việc đã làm, đang làm và sẽ làm.

2- là người thường không có trí nhớ, hay quên mình.

3- là người loạn trí, điên cuồng.

4- là người không có trí-tuệ.

5- là người có tính lười biếng trong công việc.

6- là người thường hay buồn ngủ.

7- là người bị câm điếc từ khi đầu thai.

8- là người si mê, ngu dốt.

9- là người khó nhớ, dễ quên.

10- là người có sự hiểu biết kém cỏi, dốt nát.

11- là người có thân hình nặng nề chậm chạp.

12- là người thường bị tai nạn.

13- là người sầu não, khổ tâm.

14- là người hay nói lảm nhảm.

15- là người hay nói lời chia rẽ, nói lời thô tục, nói lời vô ích.

16- là người có tính biếng nhác ngày đêm trong công việc nặng, nhẹ.

17- là người không biết ơn và không biết đền ơn đối với người ân nhân của mình.

18- là người không biết công việc đã làm xong.

19- là người keo kiệt, bủn xỉn.

20- là người không thích làm phước-thiện bố- thí đến cho người khác.

21- là người phạm các điều-giới, không có giới.

22- là người không chân thật, không ngay thẳng.

23- là người hay sinh tâm sân hận.

24- là người không biết hổ-thẹn tội-lỗi, khi làm ác.

25- là người không biết ghê-sợ tội-lỗi, khi làm ác.

26- là người có tà-kiến hiểu lầm, chấp lầm trong mọi đối tượng.

27- là người dám tạo mọi tội ác.

28- là người không có trí-tuệ, không hiểu rõ chân-lý.

29- là người không thể phát sinh trí-tuệ.

30- là người không biết phân biệt được sự lợi, sự hại, điều chánh, lẽ tà.

Đó là 30 quả xấu của ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say mà tiền-kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá khứ.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Giảng giải tránh xa sự Dễ duôi uống rượu và các chất say

Giang giai tranh xa su De duoi uong ruou va cac chat say maithengoc.com

Giảng giải tránh xa sự Dễ duôi uống rượu và các chất say

Băng nghe Giảng giải

Điều giới tránh xa sự dễ duôi uống rượu và các chất say

Surā meraya majjappamādaṭṭhānā veramaṇi- sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Nghĩa từng chữ:

Surā meraya majjap pamādaṭṭhānā:

Surā + meraya + majja + pamāda + ṭhānā.

– Surā: Rượu, bia,… là nhân sinh bạo dạn, liều lĩnh,…

– Meraya: Chất say gồm có chất say loại nước, thuốc phiện, ma tuý, cần sa, thuốc lá,… làm cho say ngất ngưởng, không biết tự chủ, là chất gây nghiện.

– Majja: Say sưa, say mê, ngất ngưởng.

– Pamāda: Sự dể duôi (thất niệm) trong mọi thiện-pháp.

– Ṭhānā: Nhân sinh.

– Veramaṇisikkhāpadaṃ: Veramaṇī + sikkhāpadaṃ.

– Veramaṇī: Tác-ý tránh xa.

– Sikkhāpadaṃ: Điều-giới, giới.

– Samādiyāmi: Con xin thọ trì.

Rượu, bia và các chất say là nhân sinh sự dể duôi (thất niệm) trong mọi thiện-pháp nói chung; cũng là nhân sinh sự bạo dạn, liều lĩnh dám tạo mọi ác-nghiệp bằng thân, khẩu, ý.

Nghĩa toàn câu:

Con xin thọ trì điều-giới, có tác-ý tránh xa uống rượu, bia và các chất say là nhân sinh sự dể duôi trong mọi thiện-pháp.

Chi-Pháp Của Điều-Giới Uống Rượu, Bia Và Các Chất Say

Người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say khi hợp đủ 4 chi-pháp:

1-   Rượu, bia hoặc các chất say (surāmerayabhāvo).

2-   Tâm muốn uống rượu, bia và các chất say (pivitukāmatā).

3-   Cố gắng uống rượu, bia hoặc các chất say (pivanaṃ).

4-   Uống rượu, bia và các chất say qua khỏi cổ làm say mất tự chủ (maddanaṃ).

Nếu người nào có đầy đủ 4 chi-pháp này thì người ấy phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say. Nếu không đủ 4 chi-pháp thì không phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say.

Giảng giải tránh xa sự Dễ duôi uống rượu và các chất say_maithengoc.com

Giảng Giải Về Sự Uống Rượu, Bia Và Các Chất Say

*   Surā: Rượu, bia là một chất nước được làm bằng cơm gạo, trái cây, v.v…

Mỗi khi uống rượu, bia vào say sưa, mất tự chủ, làm kích thích tâm tham, tâm sân, tâm si,… trở nên người hung hăng, bạo dạn, liều lĩnh,… không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, nên dám tạo mọi ác-nghiệp bằng thân, khẩu, ý.

Rượu (surā) có 5 loại:

1- Rượu, bia được làm từ gạo (gạo tẻ, gạo nếp).

2- Rượu, bia được làm từ cơm như cơm rượu.

3- Rượu, bia được làm từ các trái cây (trái

nho, táo…).

4- Rượu, bia được làm từ bánh.

5- Rượu, bia được làm từ các chất có men…

* Meraya: Chất say loại nước do ngâm các thứ trái cây, hoa, lâu ngày trở thành chất say, thuốc phiện, ma tuý, cần sa, thuốc lá,… gây nghiện.

Chất say loại nước có 5 loại:

1- Chất say do ngâm các loại hoa,… lâu ngày.

2- Chất say do ngâm các loại trái cây lâu ngày.

3- Chất say do ngâm các trái nho lâu ngày.

4- Chất say do ngâm nước mía lâu ngày.

5- Chất say do ngâm các trái cây làm thuốc lâu ngày.

Mỗi khi người uống chất say vào, cảm thấy say sưa ngất ngưởng không còn biết mình, không còn tự chủ, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, nên tạo mọi ác-nghiệp bằng thân, khẩu, ý.

Thuốc phiện, ma tuý, cần sa, thuốc lá,… là loại chất say rất nguy hiểm khi người nào dùng đến các loại ấy lâu ngày trở thành bệnh nghiện, rất khó từ bỏ.

*  Majja: Làm cho say, có 2 loại:

1- Rượu, bia và các chất say làm cho người uống say sưa, không còn biết tự chủ, trở nên người hung hăng, bạo dạn, liều lĩnh không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, dám làm mọi ác-nghiệp bằng thân, khẩu, ý.

2- Người dùng thuốc-phiện, ma-túy, cần-sa, thuốc-lá, v.v… thành thói quen, trở nên nghiện rồi khó từ bỏ. Khi đến cơn nghiện làm cho người ấy không biết tự chủ, dám làm mọi ác-nghiệp, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội- lỗi, mà lúc bình thường không dám làm.

*  Pamāda: Sự dể duôi (thất niệm) quên mình trong mọi thiện-pháp, đắm trong mọi ác-pháp.

Ṭhāna: Nhân sinh, nguyên nhân.

Nghĩa gom surā-meraya-majjappamādaṭ- ṭhānā: Rượu, bia và các chất say… là nhân sinh sự dể duôi (thất niệm) trong mọi thiện-pháp.

Nghĩa toàn câu:

Con xin thọ trì điều-giới, có tác-ý tránh xa uống rượu, bia và các chất say là nhân phát sinh sự dể duôi (thất niệm) trong mọi thiện-pháp.

4 Hạng Người Dùng Rượu

1- Dùng rượu trộn trong thuốc, trong vật thực.

2- Dùng rượu làm thuốc trị bệnh.

3- Uống rượu, bia để thưởng thức hương vị của rượu.

4- Uống rượu, bia làm cho tâm trở nên bạo dạn, liều lĩnh dám tạo mọi ác-nghiệp bằng thân, khẩu, ý.

Trong 4 trường hợp người dùng rượu này, hạng người nào phạm điều-giới uống rượu và các chất say? Tạo ác-nghiệp nhẹ, ác-nghiệp nặng như thế nào?

1- Trường hợp thứ nhất: Khi rượu được trộn trong thuốc để trị bệnh, hoặc trộn trong vật thực,… chất rượu hoàn toàn bị biến chất không còn mùi rượu, không có khả năng làm say nữa, nên người dùng thuốc ấy hoặc dùng vật thực ấy không phạm điều-giới uống rượu và các chất say, không có tội.

2- Trường hợp thứ hai: Dùng thuốc nước có pha với rượu để trị bệnh (còn có mùi rượu, có khả năng làm choáng váng chút đỉnh).

*  Nếu người nào dùng biết rõ thuốc nước có rượu, nhưng với mục đích trị bệnh, không phải muốn hưởng hương vị rượu, thì người ấy phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, tạo ác- nghiệp rất nhẹ.

*  Nếu người nào dùng thuốc nước không biết rõ có rượu, chỉ dùng với mục đích trị bệnh mà thôi, thì người ấy không phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, không tạo ác-nghiệp.

3- Trường hợp thứ ba: Người nào uống rượu để thưởng thức hương vị của rượu, bia rồi say túy lúy, hoàn toàn không còn biết gì nữa; người ấy đã phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, vì say mê trong hương vị của rượu, nên tạo ác-nghiệp nặng.

Đức-Phật dạy:

– Này chư tỳ-khưu! Người thường uống rượu, và các chất say, uống nhiều rượu và các chất say, uống nhiều lần, ác-nghiệp này có cơ hội  cho quả tái-sinh trong cõi địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh.

Người nào uống rượu và các chất say, tạo ác-nghiệp nhẹ sau khi chết, ác-nghiệp uống rượu và các chất say không có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau, nếu có đại-thiện-nghiệp khác có cơ hội cho quả được tái-sinh kiếp sau làm người, thì người ấy sẽ là người điên cuồng mất trí (ummattakasaṃvattiko)(1).

4- Trường hợp thứ tư: Người uống rượu, bia làm cho tâm trở nên bạo dạn, liều lĩnh dám tạo mọi ác-nghiệp bằng thân, khẩu, ý.

Một người bình thường có tính hay nhút nhát, biết hổ-thẹn tội-lỗi, biết ghê-sợ tội-lỗi, không dám làm mọi ác-nghiệp, nhưng một khi người  ấy uống rượu, bia và các chất say vào làm kích thích, không còn tự chủ, trở thành người hung hăng, bạo dạn, liều lĩnh dám làm mọi ác-nghiệp như sát-sinh, trộm-cắp, tà-dâm, nói năng chửi rủa gây gỗ lung tung, v.v…

Người nào đã phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, rồi tạo ác-nghiệp nào, sau khi người ấy chết, nếu ác-nghiệp ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau, thì sinh trong cõi ác-giới: địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh, chịu quả khổ do ác-nghiệp ấy.

Tính Chất Của Điều-Giới Uống Rượu, Bia Và Các Chất Say

Phạm điều-giới uống rượu, bia và các  chất say đối với người tại gia cư-sĩ và đối với bậc xuất-gia tỳ-khưu, sa-di có tính chất nhẹ – nặng khác nhau.

*   Đối với hàng tại gia cư-sĩ là cận-sự-nam, cận-sự-nữ phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say là 1 điều-giới cấm trong ngũ-giới,  trong bát-giới uposathasīla, trong cửu-giới uposathasīla,…

Nếu người cận-sự-nam, cận-sự-nữ nào đã phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, thì người cận-sự-nam, cận-sự-nữ ấy xem như bị phạm ngũ-giới, phạm bát-giới, phạm cửu-giới.

Người cận-sự-nam, cận-sự-nữ ấy cần phải thọ trì ngũ-giới, hoặc bát-giới, hoặc cửu-giới để cho mình là người có giới trở lại.

*   Đối với vị sa-di phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say là 1 điều-giới cấm trong sa- di thập-giới.

Nếu vị sa-di nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say thì vị sa-di ấy bị mất phẩm- hạnh sa-di, không còn là sa-di. Dù hình thức bên ngoài còn mặc y, nhưng nội tâm bên  trong không còn phẩm-hạnh sa-di nữa.

Biết mình bị phạm giới, mất phẩm-hạnh sa-di, vị sa-di ấy cần phải đến hầu vị Thầy tế-độ, hoặc một Ngài Trưởng-lão hiểu rõ giới luật, xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ trì sa-di thập-giới trở lại.

Sau khi thọ phép quy-y Tam-bảo đúng theo luật xong, vị sa-di ấy được phục hồi lại phẩm- hạnh sa-di như trước.

*   Đối với vị tỳ-khưu phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say là 1 điều-giới cấm trong 227 điều-giới bổn của tỳ-khưu.

Nếu vị tỳ-khưu nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say thì vị tỳ-khưu ấy phạm điều-giới pācittiya.

Vị tỳ-khưu dù biết, dù không biết rượu, bia và các chất say, khi uống vào khỏi cổ vẫn bị phạm điều-giới pācittiya.

Đã phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say ấy rồi, vị tỳ-khưu cần phải tìm đến một vị tỳ-khưu khác không uống rượu, bia và các chất say, để làm lễ xin sám hối đúng theo nghi thức trong luật mà Đức-Phật đã chế định, ban hành đến chư tỳ-khưu.

Sau khi sám hối xong, vị tỳ-khưu ấy có giới trở lại.

Một người thường uống rượu, bia và các chất say đã trở thành thói quen nghiện rượu, nghiện thuốc phiện, nghiện thuốc lá, v.v… không dễ dàng từ bỏ; bởi vì, cảm thấy chưa biết no đủ,  vẫn còn thèm khát mãi mãi.

Đức-Phật dạy trong kinh Atittasutta(1) có 3 điều không biết no đủ, vẫn thèm muốn mãi mãi như sau:

–   Không biết no đủ trong sự nằm ngủ.

–   Không biết no đủ trong sự uống rượu, bia các chất say.

–   Không biết no đủ trong sự hành-dâm.

Thật ra, 3 điều này thường phát sinh do phiền não tham muốn do tâm tham-ái là nhân sinh khổ cả trong kiếp hiện-tại lẫn vô số kiếp vị-lai.

Sự uống rượu, bia và các chất say là  một  thói hư tật xấu, do phiền-não tham muốn, là nhân sinh sự dể duôi trong mọi thiện pháp, say mê trong mọi ác-pháp, phát sinh các bệnh nan y.

Người thiện-trí có giới, có tác-ý tránh xa sự uống rượu, bia và các chất say là nhân sinh sự dể duôi trong mọi thiện-pháp, còn tránh được các thứ bệnh nghiện rượu và các chất say nữa.

Trong điều-giới thứ 5, có các chất say, chất gây nghiện, trong các chất say, chất nghiện đó là ma- tuý, thuốc- phiện, heroin, cần-sa, thuốc lá, v.v…

Ai ai cũng đều biết hút thuốc lá là có hại cho sức khoẻ, gây ra các chứng bệnh nan y.

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong khói thuốc lá có chứa hơn 7000 loại hoá chất, trong đó có hàng trăm chất cực độc và ít nhất có 70 chất có thể gây ung thư…(1). Trong các chất độc đó có chất nicotine là chất gây nghiện.

Khói thuốc lá không chỉ có hại cho người hút thuốc lá mà còn có hại cho những người thân yêu gần gũi với người hút thuốc lá nữa.

Thật ra, việc bỏ thuốc lá rất dễ dàng, nhưng vì người hút thuốc lá người quá nhu nhược, có tâm tham thèm muốn hút thuốc lá, nên trở thành người nghiện thuốc lá mà không bỏ được.

Trong đời, có không ít người nhận thức rõ được sự tai hại của khói thuốc lá, nên đã từ bỏ hẳn hút thuốc lá. Vậy, những người còn hút thuốc lá hãy nên có tâm dũng cảm bỏ hút thuốc lá, đó không phải là việc khó khăn, để tránh khỏi sự tai hại không chỉ cho bản thân của mình, mà còn cho những người thân yêu gần gũi.

Vả lại trên mỗi bao thuốc lá, các nhà sản xuất đều khuyến cáo hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ, bởi vì khói thuốc lá có những chất cực độc có thể gây bệnh ung thư, …

Người ác không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, có tác-ý trong ác-tâm phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say là nhân sinh sự dể duôi trong mọi thiện-pháp là thói hư tật xấu, do phiền-não tham muốn say mê trong mọi ác-pháp, phát sinh các bệnh nan y.

Vấn: Uống rượu, bia và các chất say thuộc về ác-nghiệp nào trong 10 ác-nghiệp?

Đáp: 10 ác-nghiệp phát sinh do nương nhờ nơi thân, khẩu, ý:

–  Thân ác-nghiệp hay thân hành-ác có 3 loại:

1-   Ác-nghiệp sát-sinh.

2-   Ác-nghiệp trộm-cắp.

3-   Ác-nghiệp tà-dâm.

–  Khẩu ác-nghiệp hay khẩu nói-ác có 4 loại:

1-   Ác-nghiệp nói-dối.

2-   Ác-nghiệp nói lời chia rẽ.

3-   Ác-nghiệp nói lời thô tục.

4-   Ác-nghiệp nói lời vô ích.

–  Ý ác-nghiệp hay ý nghĩ ác có 3 loại:

1- Ác-nghiệp nghĩ tham lam của người khác.

2- Ác-nghiệp nghĩ thù hận người khác.

3- Ác-nghiệp nghĩ tà-kiến thấy sai chấp lầm.

Uống rượu, bia và các chất say là 1 điều-giới cấm trong ngũ-giới, trong bát-giới uposathasīla, trong cửu-giới uposathasīla, v.v… mà trong 10 ác-nghiệp này, uống rượu và các chất say không có tên gọi ác-nghiệp riêng biệt như những ác- nghiệp khác.

Vì sao vậy?

Uống rượu, bia và các chất say chắc chắn thuộc về ác-nghiệp, nhưng ác-nghiệp này có tính chất bất định, nên không có tên gọi ác- nghiệp riêng biệt.

Ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say này tùy thuộc vào ác-nghiệp nào mà nó liên quan,  thì nó có tên gọi chung với ác-nghiệp ấy.

Xét Trong Những Trường Hợp Sau:

* Trường hợp người nào phạm điều-giới  uống rượu, bia và các chất say để thoả mãn cơn thèm muốn thưởng thức vị của rượu, bia hoặc chất say, rồi say túy lúy, hoàn toàn không còn biết mình, nằm ngủ cho đến khi tỉnh say.

Như vậy, người ấy phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say đã tạo ác-nghiệp, ác-nghiệp này được ghép vào ác-nghiệp tà-dâm.

Trong điều-giới tà-dâm có danh từ kāmesu- micchācāra là hành bất chánh trong ngũ-dục nghĩa là hành-dâm bất chánh với người không phải là vợ, là chồng của mình.

Ngũ-dục là sắc-dục, thanh-dục, hương-dục, vị-dục, xúc-dục.

Người phạm điều-giới tà-dâm để thoả mãn tâm tham muốn thưởng thức ngũ-dục trong thân của người không phải là vợ, là chồng của mình.

Người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say để thoả mãn cơn thèm muốn, thưởng thức vị, hương của chất rượu, bia hoặc chất say, đã tạo ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say, cũng như người phạm điều-giới tà-dâm để thoả mãn tâm tham muốn, thưởng thức ngũ-dục  trong thân của người không phải là vợ, là chồng của mình, tạo ác-nghiệp tà-dâm. Cho nên, 2 điều-giới này có đối-tượng tương tự với nhau.

Vì vậy, người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say đã tạo ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say, nên ác-nghiệp này được ghép chung vào ác-nghiệp tà-dâm.

* Trường hợp một người vốn có tính hay nhút nhát, biết hổ-thẹn tội-lỗi, biết ghê-sợ tội-lỗi, không dám làm mọi ác-nghiệp. Khi người ấy uống rượu, bia hoặc chất say vào, phạm điều- giới uống rượu, bia và các chất say. Chất rượu, bia hoặc chất say kích thích tâm tham, sân, si, người ấy không còn biết tự chủ, trở nên người hung hăng, bạo dạn, liều lĩnh không còn biết hổ- thẹn tội-lỗi, không còn biết ghê-sợ tội-lỗi, dám tạo 10 ác-nghiệp.

Nếu người nào phạm điều-giới uống  rượu, bia và các chất say, rồi say mê không còn biết tự chủ, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê- sợ tội-lỗi, hung hăng, dám liều lĩnh tạo ác- nghiệp nào, người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say ấy đã tạo ác-nghiệp, thì ác- nghiệp uống rượu, bia và các chất say ấy được ghép chung với ác-nghiệp ấy như sau:

*    Nếu như người nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, trở thành người hung hăng dám liều lĩnh tạo ác-nghiệp sát-sinh, người ấy phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say đã tạo ác-nghiệp, thì ác-nghiệp ấy được ghép chung với ác-nghiệp sát-sinh.

Tương tự như vậy:

*    Nếu người nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, trở thành người liều lĩnh rồi dám tạo ác-nghiệp trộm-cắp, người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say ấy đã tạo ác-nghiệp, thì ác-nghiệp ấy được ghép chung với ác-nghiệp trộm-cắp.

*    Nếu người nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, trở thành người liều lĩnh rồi dám tạo ác-nghiệp tà-dâm, người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say ấy đã tạo ác-nghiệp, thì ác-nghiệp ấy được ghép  chung với ác-nghiệp tà-dâm.

*    Nếu người nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, trở thành người liều lĩnh rồi dám tạo ác-nghiệp nói-dối, người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say ấy đã tạo ác-nghiệp, thì ác-nghiệp ấy được ghép chung với ác-nghiệp nói-dối.

*    Nếu người nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, trở thành người liều lĩnh rồi dám tạo ác-nghiệp nói lời chia rẽ,  người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say ấy đã tạo ác-nghiệp, thì ác-nghiệp ấy được ghép chung với ác-nghiệp nói lời chia rẽ.

*    Nếu người nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, trở thành người liều lĩnh rồi dám tạo ác-nghiệp nói lời thô-tục (chửi rủa, mắng nhiếc), người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say ấy đã tạo ác-nghiệp, thì ác-nghiệp ấy được ghép chung với ác-nghiệp nói lời thô-tục.

*    Nếu người nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, trở thành người liều lĩnh rồi dám tạo ác-nghiệp nói lời vô ích, người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say ấy đã tạo ác-nghiệp, thì ác-nghiệp ấy được ghép chung với ác-nghiệp nói lời vô ích.

*    Nếu người nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, trở thành người liều lĩnh rồi dám nghĩ tham lam của cải của người khác, người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say ấy đã tạo ác-nghiệp, thì ác-nghiệp ấy được ghép chung với ác-nghiệp tham lam của cải của người khác.

*    Nếu người nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, trở thành người liều lĩnh rồi dám nghĩ thù oán người khác, người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say ấy đã tạo ác-nghiệp, thì ác-nghiệp ấy được ghép chung với ác-nghiệp thù oán người khác.

*    Nếu người nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, trở thành người liều lĩnh rồi dám phát sinh tà-kiến thấy sai chấp lầm, người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say ấy đã tạo ác-nghiệp, thì ác-nghiệp ấy được ghép chung với ác-nghiệp tà-kiến thấy sai chấp lầm.

Phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say là nhân tạo 10 ác-nghiệp, nên ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say này thuộc về ác- nghiệp bất-định, vì vậy, không chế định ra ác- nghiệp riêng biệt.

Thật vậy, Ngài Trưởng-lão Ānanda (lớp người hậu sinh) biên soạn bộ Mūlaṭīkā giải rằng:

“Tassa sabhāgattena micchācāre, upakāra- kattena dasasu pi kammapathesu anuppaveso hoti”.

Phạm điều-giới uống rượu và các chất say đã tạo ác-nghiệp, ác-nghiệp này được ghép chung vào ác-nghiệp tà-dâm, bởi vì phạm điều-giới này có đối tượng tương tự như phạm điều-giới tà- dâm. Và phạm điều-giới uống rượu và các chất say là nhân tạo 10 ác-nghiệp, nên ác-nghiệp ấy cũng được ghép chung vào trong 10 ác-nghiệp.

Tính Chất Nghiêm Trọng Của Người Phạm Điều-Giới Uống Rượu, Bia Và Các Chất Say

Người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, không biết tự chủ, trở thành người hung hăng dám liều lĩnh tạo mọi ác-nghiệp nghiêm trọng, mà lúc tỉnh không dám làm.

Khi người nào thường dùng các chất say như thuốc-phiện, ma-túy, cần-sa, v.v… trở thành bệnh nghiện nặng, đến khi người ấy lên cơn thèm khát các chất say ấy mà không có sẵn, khiến cho người ấy lên cơn điên loạn, hung hăng dám liều lĩnh tạo mọi ác-nghiệp nghiêm trọng mà lúc tỉnh không dám làm.

Như vậy, phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say là nguyên nhân dẫn đến tạo mọi ác- nghiệp nghiêm trọng nguy hại trong kiếp hiện- tại và vô số kiếp vị-lai.

Trong Chú-giải Suttanipātaṭṭhakathā, giải về tội-ác của sự uống rượu và các chất say:

“Yasmā pana majjapāyī aṭṭhaṃ na jānāti, dhammaṃ na jānāti, mātu antarāyaṃ karoti, pitu Buddha paccekabuddha tathāgatasāvakānampi antarāyaṃ  karoti,  diṭṭheva  dhamme  garahaṃ, samparāye duggatiṃ, aparāpariye ummādañca pāpuṇāti”(1).

Người thường uống rượu và các chất say, không biết quả, không biết nhân, gây ra sự tai- hại đến sinh-mạng của mẹ cha, gây ra sự tai-hại đến Đức-Phật, Đức-Phật Độc-Giác, các hàng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật.

Trong kiếp hiện-tại, người uống rượu và các chất say thường bị chư thiện-trí chê trách.

Sau khi người uống rượu và các chất say chết, ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh trong cõi ác- giới: địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh.

Đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy trong cõi ác-giới, nếu có dục-giới đại-thiện-nghiệp khác cho quả tái-sinh kiếp sau làm người thì người ấy sẽ là người mất trí, người điên cuồng.

Và Ngài Đại-Trưởng-lão Mahābuddhaghosa dạy về ngũ-giới, người phạm điều-giới uống rượu và các chất say là nhân sinh sự dể duôi (thất niệm) trong mọi thiện pháp tạo đại trọng tội mà hậu quả vô cùng nghiêm trọng hơn 4 điều-giới còn lại như sau:

“Apicettha surāmerayamajjappamādaṭṭhāna- meva mahāsāvajjaṃ na tathā pāṇātipātādayo. Kasmā manussabhūtassāpi ummattakabhāva- saṃvattanena ariyadhammantarāyakaraṇato’ti. Evamettha mahāsāvajjato pi viññatabbo vinicchayo”(1).

Sự thật, trong ngũ-giới ấy, người phạm điều- giới uống rượu và các chất say là nhân sinh sự dể duôi (thất niệm) trong mọi thiện-pháp, tạo ác-nghiệp đại trọng tội hơn 4 điều-giới còn lại là phạm điều-giới sát-sinh, phạm điều-giới trộm-cắp, phạm điều-giới tà-dâm, phạm điều- giới nói-dối, bởi vì 4 điều-giới này gây hậu quả ít nghiêm trọng hơn phạm điều-giới uống rượu và các chất say. Tại sao?

Người phạm điều-giới uống rượu và các chất say này còn là nhân làm cho người ấy mắc phải chứng bệnh điên, mất trí, làm tai hại đến pháp của bậc Thánh-nhân (ariyadhamma) đó là Thánh-đạo, Thánh-quả.

Nên hiểu rõ ý nghĩa “mahāvajja: ác-nghiệp đại trọng tội” phạm điều-giới uống rượu và các chất say là nhân sinh sự dể duôi trong mọi thiện pháp này.

Thật vậy, trong ngũ-giới, dù người nào phạm điều-giới sát-sinh như giết cha, giết mẹ đã tạo ác-nghiệp trọng-tội (akusalagarukakamma) gọi là ānantariyakamma: ác-nghiệp vô-gián trọng- tội. Sau khi người ấy chết, chắc chắn ác-nghiệp vô-gián trọng-tội ấy cho quả tái-sinh kiếp kế- tiếp trong cõi đại-địa-ngục Avīci, chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy trong suốt thời gian lâu dài nhiều đại-kiếp trái đất trong cõi đại-địa-ngục, cho đến khi mãn quả ác-nghiệp ấy, mới thoát ra khỏi cõi địa-ngục.

Nếu có đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau làm người, thì người ấy có thể là hạng người tam-nhân có trí-tuệ sáng suốt, có khả năng thực-hành pháp-hành thiền-định, thực- hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn được.

Như trường hợp Đức-vua Ajātasattu giết Đức Phụ-vương là Đức-vua Bimbisāra (bậc Thánh Nhập-lưu).

Về sau, Đức-vua Ajātasattu biết ăn năn hối lỗi, ngự đến hầu đảnh lễ Đức-Phật, khi ấy, Đức- Phật thuyết giảng bài kinh Sāmaññaphalasutta  tế độ Đức-vua, sau khi nghe bài kinh ấy xong, Đức-vua Ajātasattu phát sinh đức-tin vô cùng hoan hỷ chưa từng có, kính xin thọ phép quy y Tam-bảo, kính xin Đức-Phật công nhận Đức- vua là người cận-sự-nam đã quy y Tam-bảo đến trọn đời. Đức-vua thành tâm sám hối tội lỗi giết Đức Phụ-vương Bimbisāra, kính xin Đức-Phật chứng minh.

Từ đó về sau, Đức-vua Ajātasattu là người cận-sự-nam có đức-tin đặc biệt trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức- Tăng-bảo, hết lòng hộ độ Tam-bảo đến trọn đời.

Sau khi Đức-Phật Gotama tịch diệt Niết-bàn, thời gian sau khoảng 3 tháng 4 ngày, Ngài Đại-Trưởng-lão Mahākassapa chủ trì trong kỳ kết tập Tam-tạng Pāḷi và Chú-giải Pāḷi lần thứ nhất, gồm có 500 vị Trưởng-lão đều là bậc Thánh A- ra-hán, tại động Sattapaṇṇi gần kinh-thành Rājagaha đất nước Māgadha.

Đức-vua Ajātasattu là người hộ độ 500 chư Đại-đức-Tăng toàn là bậc Thánh A-ra-hán trong kỳ kết tập Tam-tạng Pāḷi và Chú-giải Pāḷi lần thứ nhất ấy, suốt 7 tháng mới hoàn thành xong trọn bộ Tam-tạng Pāḷi và Chú-giải Pāḷi.

Sau khi Đức-vua Ajātasattu băng hà, ác- nghiệp giết Đức Phụ-vương là ác-nghiệp vô- gián trọng-tội đáng lẽ ra cho quả tái-sinh kiếp kế-tiếp trong cõi đại-địa-ngục Avīci, nhưng nhờ đại-thiện-nghiệp quy-y Tam-bảo và đại-thiện- nghiệp hộ độ 500 chư Đại-đức-Tăng toàn bậc Thánh A-ra-hán trong kỳ kết tập Tam-tạng Pāḷi và Chú-giải Pāḷi lần thứ nhất ấy, làm giảm tiềm năng cho quả của ác-nghiệp ấy, nên chỉ cho quả tái-sinh kiếp kế-tiếp trong cõi tiểu-địa-ngục Lohakumbhī chịu quả khổ suốt thời gian 60.000 (sáu mươi ngàn) năm mà thôi.

Như Đức-Phật Gotama đã thọ ký như sau:

Sau khi Đức-vua Ajātasattu băng hà, ác- nghiệp vô-gián giết Đức Phụ-vương chỉ cho quả tái-sinh kiếp kế-tiếp trong cõi tiểu-địa-ngục Lohakumbhī nồi đồng sôi, từ miệng nồi chìm xuống đến đáy nồi suốt 30.000 năm, rồi từ đáy nồi nổi lên đến miệng nồi suốt 30.000 năm, mới mãn quả của ác-nghiệp ấy, rồi do nhờ đại-thiện- nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người trong thời-kỳ không có Đức-Phật Chánh- Đẳng-Giác, hậu kiếp của Đức-vua Ajātasattu xuất gia trở thành Đức-Phật Độc-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Độc-Giác Vijitāvi(1).

*    Trong thời kỳ Đức-Phật Gotama, có Ngài Đại-Trưởng-lão Mahāmoggallāna là bậc Thánh Tối-thượng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật.

Tiền-kiếp xa xưa của Ngài Đại-Trưởng-lão là một người con chí hiếu đối với mẹ cha già đui mù.

Về sau, người con vâng lời mẹ cha, chịu lấy vợ. Người vợ không muốn sống chung với mẹ cha chồng, vì chiều theo ý vợ, nên người con bày mưu đánh xe chở mẹ cha già đui mù đi thăm bà con, đến khu rừng, người con xuống xe, giả làm tên cướp đến đánh đập cha  mẹ  chết,  bỏ xác trong rừng, đã tạo ác-nghiệp vô-gián trọng- tội giết mẹ cha.

Sau khi tiền-kiếp của Ngài Đại-Trưởng-lão chết, do ác-nghiệp vô-gián trọng-tội giết mẹ cha ấy cho quả tái-sinh trong cõi đại-địa-ngục Avīci, trong suốt thời gian lâu dài cho đến khi mãn quả ác-nghiệp ấy, mới thoát ra khỏi địa-ngục.

*    Trong thời kỳ Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, hậu kiếp của người con giết mẹ cha, sinh vào trong dòng Bà-la-môn có tên Kolita, xuất gia trở thành tỳ-khưu nơi Đức-Phật, có tên là tỳ-khưu Mahāmoggallāna trở thành bậc Thánh A-ra-hán, Tối-thượng thanh-văn đệ- tử của Đức-Phật Gotama, có phép thần-thông xuất sắc đệ nhất trong hàng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật Gotama.

Hai tích dẫn chứng trên để chứng tỏ rằng: Mặc dù ác-nghiệp vô-gián trọng-tội như ác-nghiệp giết cha, giết mẹ,… thuộc về ác-nghiệp vô-gián trọng-tội chắc chắn phải tái-sinh trong cõi đại-địa-ngục Avīci, chịu quả khổ suốt thời gian lâu dài cho đến khi mãn quả ác-nghiệp ấy, mới thoát khỏi địa-ngục.

Thế mà, sau khi thoát khỏi địa-ngục, do nhờ dục-giới đại-thiện-nghiệp khác cho quả tái-sinh kiếp sau làm hạng người tam-nhân có khả năng thực-hành pháp-hành thiền-định, thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh- quả, Niết-bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán.

Còn như người nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say, sau khi người ấy chết, nếu ác-nghiệp này có cơ hội cho quả tái-sinh trong cõi ác-giới: địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh, thì phải chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy suốt thời gian lâu cho đến khi mãn quả ác- nghiệp ấy mới mong thoát khỏi cõi ác-giới ấy.

Sau khi thoát khỏi cõi ác-giới rồi, nếu có dục- giới đại-thiện-nghiệp khác cho quả tái-sinh kiếp sau làm người, thì người ấy sẽ là người mắc bệnh điên cuồng, mất trí, không có khả năng thực-hành pháp-hành thiền-định, pháp-hành thiền-tuệ, không có khả năng chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả, Niết-bàn.

Người nào phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say là nhân sinh sự dể duôi (thất niệm) trong mọi thiện-pháp, dám liều lĩnh tạo mọi ác- nghiệp, sẽ đem lại những hậu quả tai-hại  vô cùng nghiêm trọng trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai.

Sự Tai Hại Của Sự Uống Rượu, Bia Và Các Chất Say

Trong ngũ-giới có 5 điều-giới từ điều-giới thứ nhất đến điều-giới thứ tư, người nào lỡ phạm điều-giới thứ nhất tạo ác-nghiệp, thậm chí tạo ác-nghiệp vô-gián trọng-tội giết mẹ, giết cha.

Sau khi người ấy chết, chắc chắn ác-nghiệp vô-gián trọng-tội ấy cho quả tái-sinh kiếp kế-tiếp trong cõi đại-địa-ngục Avīci, chịu quả khổ lâu dài trong cõi đại-địa-ngục ấy, cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy, mới được thoát ra khỏi cõi ác-giới.

Nếu có đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người thuộc về hạng người tam- nhân, thì người tam-nhân ấy vẫn có khả năng tạo mọi thiện-nghiệp từ 8 dục-giới đại-thiện- nghiệp, 5 sắc-giới thiện-nghiệp, 4 vô-sắc-giới thiện-nghiệp cho đến 4 siêu-tam-giới thiện- nghiệp trong 4 Thánh-đạo-tâm liền cho quả là 4 Thánh-quả-tâm, trở thành bậc Thánh A-ra-hán sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân- hồi trong tam-giới.

Còn điều-giới thứ năm là điều-giới tránh xa sự uống rượu, bia và các chất say… Người nào đã phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say là nhân sinh sự dể duôi (thất niệm) trong mọi thiện-pháp này rồi, đã tạo ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say thì có hậu quả tai hại vô cùng nghiêm trọng, trong kiếp hiện-tại trở thành người nghiện rượu, bia, nghiện thuốc- phiện, nghiện ma-túy, nghiện cần-sa, nghiện thuốc lá, v.v… mắc nhiều chứng bệnh nan y, tự làm khổ mình và làm khổ những người thân yêu của mình, lại còn gây ra mọi tai nạn khác nữa.

Sau khi người ấy chết, nếu ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi ác-giới (địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh), thì phải chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy, cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy, mới thoát ra khỏi cõi ác-giới.

Nếu có đại-thiện-nghiệp nào cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người thì người ấy còn là người mắc phải chứng bệnh điên, mất trí, làm tai hại cho sự chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả, Niết-bàn.

Rượu, bia và các chất say có sự tai hại vô cùng nghiêm trọng như vậy, thế mà có một số người sử dụng rượu, bia và các chất say như là thức uống xã giao trong đời.

Khi hai người bạn cũ gặp lại nhau, dẫn nhau vào quán để uống rượu, bia; trong các buổi tiệc mừng không thể thiếu món rượu, bia để đãi khách quý, v.v…

Một số người lạm dụng uống rượu, bia và sử dụng các chất say hằng ngày, nên trở thành người nghiện rượu, bia, nghiện thuốc-phiện, nghiện ma-túy, nghiện cần-sa, nghiện thuốc lá, v.v… thường xảy ra tai nạn, mắc nhiều chứng bệnh nan y, tự làm khổ mình và làm khổ những người thân trong gia đình, bà con thân quyến trong kiếp hiện-tại.

Sau khi người phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say ấy chết, nếu ác-nghiệp uống rượu, bia và các chất say có cơ hội cho quả tái- sinh kiếp sau trong cõi ác-giới; hoặc nếu đại- thiện-nghiệp có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người thì người ấy trở thành người điên cuồng, mất trí, si mê, thật là cuộc đời quá thê thảm biết dường nào!

Cho nên, người thiện-trí biết hổ-thẹn tội-lỗi, biết ghê-sợ tội-lỗi, tin nghiệp và quả của nghiệp, biết tự trọng, biết thương yêu mình, biết thương yêu mọi người, mọi chúng-sinh khác  như thương yêu chính mình, nên biết giữ gìn ngũ- giới được trong sạch và trọn vẹn, nhất là điều- giới tránh xa uống rượu, bia và các chất say là nhân sinh sự dể duôi trong mọi thiện-pháp, đó là người thiện-trí biết giữ gìn nhân-phẩm quý báu vốn có trong con người của mình từ khi đầu thai làm người, và người thiện-trí còn khuyên bảo người khác cũng biết giữ gìn ngũ-giới cho được trong sạch và trọn vẹn nữa.

Tội-Ác Từ Say Rượu

Đức-Phật đang ngự tại ngôi chùa Jetavana gần kinh-thành Sāvatthi, khi ấy, Đức-Phật thuyết về tích tiền-kiếp của Đức-Phật là Đức-Bồ-tát Dhammadhaja(1) có một đoạn giảng giải về tội- ác khủng khiếp phát sinh từ say rượu, được tóm lược như sau:

Đức-Bồ-tát Dhammadhaja là quan cận thần của Đức-vua Yasapāni, có một người bạn thân tên Chattapānī.

Ông Chattapāni là người thợ cắt tóc, sửa râu của Đức-vua Yasapāni. Ông Chattapāni có bản tính tự nhiên do lời chân thật phát nguyện không bao giờ uống rượu trong suốt mỗi kiếp cho đến khi trở thành bậc Thánh A-ra-hán, bởi vì, ông nhận thức thấy rõ tội-ác khủng khiếp phát sinh do từ uống rượu, say rượu…

Một hôm, người thợ cắt tóc Chattapāni tâu với Đức-vua Yasapāni rằng:

– Muôn tâu Đại-vương, trong tiền-kiếp kẻ hạ thần đã từng ăn thịt con yêu quý của mình, bởi vì say rượu. Sau khi tỉnh say rượu, kẻ hạ thần vô cùng sầu não, khổ tâm cùng cực, vì thương nhớ đến đứa con yêu quý nhất. Rồi từ kiếp đó về sau, hạ thần đã phát nguyện trong suốt mỗi kiếp không bao giờ uống rượu nữa.

Người thợ cắt tóc Chattapāni thuật lại câu chuyện xảy ra rằng:

Muôn tâu Đại-vương, tiền-kiếp của hạ thần cũng làm vua trị vì xứ Bārāṇasī, khi hạ thần là Đức-vua, hằng ngày không thể thiếu món rượu, và trong mỗi bữa ăn không thể thiếu món thịt.

Trong kinh-thành Bārāṇasī thời ấy, vào ngày giới hằng tháng, người ta không sát-sinh, cho nên người đầu bếp phải mua thêm thịt vào trước ngày giới, để dành phần cho ngày hôm sau. Do sơ suất, ông cất giữ món thịt ấy không cẩn thận, nên bị con chó ăn mất hết.

Sáng hôm ấy, nhằm vào ngày giới, người đầu bếp đi tìm mua thịt khắp mọi nơi, mà không có món thịt nào cả.

Ông đã cố gắng làm những món ăn thơm tho ngon lành xong, mà chưa dám đem dâng lên Đức-vua đang ở trên lâu đài. Ông vào tâu với  bà chánh-cung hoàng-hậu rằng:

–    Tâu Chánh-cung Hoàng-hậu, hôm nay, kẻ hạ thần đi tìm mua thịt khắp mọi nơi mà không có món thịt nào.

Bữa ăn hôm nay không có món thịt, nên kẻ hạ thần chưa dám dâng lên Đức-vua. Bây giờ, kẻ hạ thần phải làm thế nào? Tâu lệnh bà.

–   Này ngươi! Hoàng-tử của ta được Đức-vua thương yêu quý mến nhất, khi Đức-vua đang thương yêu, âu yếm ôm hoàng-tử vào lòng, chắc Đức-vua không còn quan tâm đến bữa ăn có món thịt hay không.

Bà Chánh-cung Hoàng-hậu trang điểm cho hoàng-tử thật đáng yêu, rồi bồng hoàng-tử đặt ngồi trên vế của Đức-vua. Đức-vua say mê vui đùa với hoàng-tử. Khi ấy, người đầu bếp đem vật thực vào dâng lên Đức-vua. Khi đang say rượu, Đức-vua nhìn trong mâm thức ăn không thấy món thịt, bèn phán rằng:

Tại sao hôm nay không có món thịt? Người đầu bếp hoảng sợ tâu rằng:

–   Muôn tâu Bệ-hạ, hôm nay là ngày giới, nên kẻ hạ thần đi tìm khắp mọi nơi, mà cũng không mua được món thịt nào cả.

Đức-vua đang trong lúc say ngất ngưởng phán rằng:

Tìm thịt làm món ăn cho Trẫm, khó đến như vậy sao?

Đức-vua bèn nắm đầu hoàng-tử vặn cổ chết tươi, rồi ném xuống trước mặt người đầu bếp, mà phán tiếp rằng:

–  Ngươi hãy mau đem đi làm món ăn cho Trẫm!

Người đầu bếp tuân theo lệnh của Đức-vua, làm món ăn bằng thịt của hoàng-tử, rồi đem lên dâng Đức-vua dùng trong bữa ăn tối hôm ấy.

Chánh-cung Hoàng-hậu và tất cả những người hầu chẳng có một ai dám khóc than, phản đối gì cả, bởi vì họ rất sợ Đức-vua.

Đức-vua dùng bữa ăn tối xong, nằm ngủ cho đến sáng ngày hôm sau mới thức dậy. Đã tỉnh cơn say, Đức-vua truyền lệnh rằng:

–   Hãy bồng hoàng-tử yêu quý của ta đến đây!

Bà Chánh-cung Hoàng-hậu đến chầu, cúi lạy dưới chân Đức-vua mà than khóc.

Đức-vua bèn truyền hỏi rằng:

–   Này ái-khanh! Ái-khanh khóc vì chuyện gì?

Tại sao ái-khanh không bồng hoàng-tử yêu quý của Trẫm đến đây?

Chánh-cung Hoàng-hậu tâu rằng:

–   Muôn tâu Hoàng-thượng, chiều hôm  qua Hoàng-thượng đã vặn cổ hoàng-tử chết tươi, rồi trao cho người đầu bếp bảo làm món ăn dâng lên Hoàng-thượng. Hoàng-thượng đã dùng bữa ăn với món thịt của hoàng-tử từ tối hôm qua rồi.

Lắng nghe Chánh-cung Hoàng-hậu tâu như vậy, Đức-vua vô cùng hối hận, khổ tâm sầu não, vì thương tiếc hoàng-tử yêu quý.

Khi đã nhận thức rõ tội-ác khủng khiếp phát sinh từ uống rượu, say rượu, Đức-vua bèn chắp chặt đôi tay đưa lên trán, rồi phát nguyện rằng:

“Kể từ kiếp này về sau, và những kiếp sau kế- tiếp cho đến kiếp chót trở thành bậc Thánh A-ra- hán, Trẫm nguyện sẽ không bao giờ uống rượu nữa, để không còn thấy cảnh tự làm khổ mình và làm khổ những người thân yêu của trẫm nữa”.

Thật vậy, kể từ đó cho đến trọn kiếp và trải qua vô số kiếp tử sinh luân-hồi, kiếp nào hạ thần cũng không bao giờ uống một chút rượu nào cả.

(Trích đoạn tiền-kiếp Đức-Bồ-tát Dhammadhaja)

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Giảng giải tránh xa sự Nói dối

Giang giai tranh xa su Noi doi maithengoc.com

Giảng giải tránh xa sự Nói dối

Điều giới tránh xa sự nói dối

Musāvādā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Nghĩa từng chữ:

–   Musāvāda: Musā + vāda.

–   Musā: Chuyện dối trá, điều không thật, vật không có.

–   Vāda: Lời nói.

Ví dụ: Tôi biết chuyện ấy mà nói tôi không biết; tôi không biết chuyện ấy mà nói tôi biết,… như vậy “chuyện ấy” là chuyện musā: lừa dối.

Tôi có tiền mà nói tôi không có tiền, tôi không có tiền mà nói tôi có tiền,… như vậy “tiền” là vật musā: lừa dối.

–   Veramaṇisikkhāpadaṃ: Veramaṇī + sikkhāpadaṃ.

–   Veramaṇī: tác-ý tránh xa.

–   Sikkhāpadaṃ: điều-giới, giới.

–   Samādiyāmi: Con xin thọ trì.

Điều không thật, vật không có, v.v… người ta có tác-ý tâm-sở đồng sinh với bất-thiện-tâm muốn lừa dối người khác, nên nói rằng: “điều ấy là thật, vật ấy là có”.

Như vậy, gọi là nói-dối (musāvāda) cốt để cho người khác tin là thật.

Sự nói-dối này phát sinh phần nhiều do khẩu nói bằng lời nói, và đôi khi cũng phát sinh do thân bằng cử động lắc đầu phủ định, gật đầu khẳng định,… mặc dù vậy, vẫn gọi là nói-dối (musāvāda).

Nghĩa toàn câu:

Con xin thọ trì điều-giới, có tác ý tránh xa sự nói-dối.

Giảng giải tránh xa sự Nói dối

Chi Pháp Của Điều Giới Nói Dối

Người phạm điều-giới nói-dối khi hợp đủ 4 chi-pháp:

1-    Điều không thật, vật không có (atthavatthu).

2-    Tâm nghĩ lừa dối (visaṃvādanacittatā).

3-    Cố gắng lừa dối bằng lời nói hoặc bằng thân cử động theo tâm nghĩ lừa dối của mình (payoga).

4-    Người nghe tin theo sự lừa dối ấy (tadattha vijānanaṃ).

Nếu người nào có đầy đủ 4 chi-pháp này thì người ấy phạm điều-giới nói-dối.  Nếu  không đủ 4 chi-pháp thì không phạm điều-giới nói-dối.

Giảng Giải Về Sự Nói Dối

Những điều không thật như:

–   Điều mình không thấy, nói rằng: tôi thấy.

–   Điều mình không nghe, nói rằng: tôi nghe.

–   Điều mình không biết, nói rằng: tôi biết.

–   Điều mình thấy, nói rằng: tôi không thấy.

–   Điều mình nghe, nói rằng: tôi không nghe.

–   Điều mình biết, nói rằng: tôi không biết,…

Những vật không có như:

–   Vật ấy mình không có, nói rằng: tôi có.

–   Vật ấy mình có, nói rằng: tôi không có, v.v…

Tâm nghĩ lừa dối người nghe có 2 trường hợp:

1- Tâm  nghĩ  lừa  dối    nghe,  nhưng không gây thiệt hại đến  cho  người tin  theo,  thì chỉ phạm điều-giới nói-dối mà không cho quả tái-sinh trong cõi ác-giới.

2- Tâm nghĩ lừa dối người nghe, để gây thiệt hại đến cho người tin theo, thì thật là lừa dối, cho nên phạm điều-giới nói-dối, cho quả tái-sinh trong cõi ác-giới.

Sự cố gắng lừa dối bằng lời nói hoặc bằng thân cử động có 4 cách:

1-   Tự mình cố gắng lừa dối bằng lời nói-dối hoặc bằng thân cử động lắc đầu phủ định điều có thật, hoặc gật đầu khẳng định điều không có thật.

2-   Sai khiến người khác lừa dối bằng khẩu nói-dối, hoặc bằng thân ra hiệu.

3-   Viết chuyện không thật trên báo, trong thư, nói điều không thật trên đài phát thanh,… lan truyền lừa dối độc giả, thính giả,… tin theo cho là thật.

4-   Viết sách nội dung không có thật, ghi âm thanh điều không thật vào băng đĩa,… có tính cách lâu dài, để lừa dối độc giả, thính giả tin theo.

Người nào có tác-ý trong bất-thiện-tâm lừa dối người khác, nếu người khác tin theo sự lừa dối  của  mình,  nên  hội  đầy  đủ  4  chi-pháp thì người ấy phạm điều-giới nói-dối, tạo ác-nghiệp nói-dối. Nhưng nếu người khác không tin theo sự lừa dối ấy, nên không hội đủ 4 chi-pháp thì người ấy không phạm điều-giới nói-dối.

Ác Nghiệp Nặng Nhẹ Của Điều Giới Nói Dối

Người phạm điều-giới nói-dối tạo ác-nghiệp nặng hoặc ác-nghiệp nhẹ căn cứ vào sự thiệt hại nhiều hoặc ít đến cho người tin theo sự nói-dối ấy.

–   Nếu người nào phạm điều-giới nói-dối đã gây ra sự thiệt hại nhiều đến cho người tin theo sự nói-dối, thì người nói-dối ấy đã tạo ác-nghiệp nói-dối nặng, ác nghiệp này có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi ác-giới.

–   Nếu người nào phạm điều-giới nói-dối nhưng không gây ra sự thiệt hại nào đáng kể đến cho người tin theo sự nói-dối, thì người nói-dối ấy đã tạo ác-nghiệp nói-dối nhẹ, ác nghiệp này không có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi ác- giới, mà có cơ hội cho quả trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh.

Tính Chất Của Sự Nói Dối

* Đối với người cận-sự-nam, cận-sự-nữ:

Nói-dối là 1 giới cấm trong ngũ-giới, trong bát-giới uposathasīla, trong cửu giới uposatha- sīla,… mà người tại gia nói chung cần phải giữ gìn cho được trong sạch, thì được nhiều phước- thiện cao quý.

Nếu người nào phạm điều-giới nói-dối thì người ấy đã tạo ác-nghiệp nói-dối nặng  hoặc nhẹ tùy theo sự thiệt hại đã gây ra đối với người tin theo sự lừa dối ấy.

Ngay kiếp hiện-tại người phạm điều-giới nói- dối bị mất uy tín đối với nhiều người, nếu tạo ác- nghiệp nói-dối nặng thì ác-nghiệp nói-dối ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi ác-giới.

Nói-Dối, Lừa Dối Vô Tội

Người nói-dối bằng khẩu hoặc lừa dối bằng thân, nếu không gây ra sự thiệt hại nào đến cho người tin theo lời nói-dối, sự lừa dối ấy, thậm chí còn đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc lâu dài cho người tin theo lời nói-dối, sự lừa dối ấy, thì người ấy tuy phạm điều-giới nói-dối mà không có tội, lại còn có phước-thiện nữa.

* Tích tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama là Đức- Bồ-tát Pañcāvudhakumāra(1) bị dạ xoa Silesa- loma bắt để ăn thịt. Đức-Bồ-tát Pañcāvudha- kumāra bảo dạ-xoa rằng:

–   Này dạ-xoa! Trong thân của ta có khí giới, nếu ngươi ăn thịt ta, thì khí giới của ta sẽ giết hại sinh-mạng của ngươi luôn.

Dạ-xoa nghe Đức-Bồ-tát nói như vậy, tin theo lời của Đức-Bồ-tát, nên dạ-xoa không dám ăn thịt, mà thả Đức-Bồ-tát trở về.

Đức-Bồ-tát Pañcāvudhakumāra nói trong thân của mình có vũ khí, danh từ khí giới mà Đức-Bồ-tát sử dụng ở đây là khí giới trí-tuệ (ñāṇā-vudha), nhưng dạ-xoa lại tin và hiểu rằng khí giới ở đây là khí giới giết hại.

Đức-Bồ-tát nói lời lẽ khó hiểu, khiến dạ-xoa tin theo và hiểu sai, nhưng không gây ra sự thiệt hại đến cho dạ-xoa. Cho nên, Đức-Bồ-tát nói- dối nhưng không có tội.

* Tích tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama là Đức Bồ-tát khỉ chúa(1) sống trong rừng. Một hôm, con cá sấu bò lên bờ gặp khỉ chúa, nói-dối lừa gạt khỉ chúa rằng:

–   Này chú khỉ! Bờ sông bên kia có nhiều thứ trái cây ngon, nếu chú muốn qua bên kia thì chú lên ngồi trên lưng, tôi sẽ chở chú qua bên kia.

Khỉ chúa tin theo lời của cá sấu, nên leo lên ngồi trên lưng, con cá sấu bơi ra  giữa  dòng sông định lặn xuống, thì khỉ chúa bèn hỏi rằng:

–   Này anh cá sấu! Anh định cho tôi chìm trong nước để anh được lợi ích gì?

Cá sấu nói thật rằng:

–   Này chú khỉ! Tôi nói-dối lừa gạt chú để ăn trái tim của chú.

Khỉ chúa bảo rằng:

–   Này anh cá sấu! Trái tim của tôi không có trong thân này, tôi đã gỡ trái tim ra và đem treo lủng lẳng trên cành cây kia kìa.

Vừa nói, khỉ chúa vừa đưa tay chỉ cho cá sấu thấy chùm trái cây gần bờ sông và bảo với cá sấu rằng:

–   Nếu anh muốn ăn trái tim của tôi thì anh hãy chở tôi trở lại bờ sông có chùm trái cây kia.

Nghe như vậy, cá sấu tin theo lời của Đức- Bồ-tát khỉ chúa, bơi vào gần bờ sông, Đức-Bồ- tát khỉ chúa liền nhảy lên cành cây, sinh-mạng được an toàn.

Như vậy, Đức-Bồ-tát khỉ chúa nói-dối lừa gạt cá sấu, nhưng không gây sự thiệt hại nào đến cá sấu. Cho nên, Đức-Bồ-tát khỉ chúa nói-dối nhưng không có tội.

Một người làm cử chỉ đuổi chim, bằng cách giả bộ ném một vật gì, hoặc giương cung mà không có mũi tên ra hăm dọa,… làm cho chim tưởng ném thật, hoặc bắn thật, chúng hoảng sợ bay đi,…

Đó là hành vi cử chỉ lừa dối bằng thân, nhưng không gây ra sự tai-hại nào đến đối tượng bị lừa dối. Cho nên, sự lừa dối ấy vô tội.

Như vậy, nói-dối bằng lời nói, hoặc hành vi lừa dối bằng thân, mà không gây ra sự thiệt hại nào đến cho người tin theo, đều là vô tội, không thể cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi ác-giới.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Giải thích phạm giới Nói dối

Giai thich pham gioi Noi doi maithengoc.com

Giải thích phạm giới Nói dối

Điều Giới Nói Dối 

Điều-giới nói-dối liên quan đến nói lời không chân thật, lừa dối,… có 2 loại nghiệp:

–   Người giữ gìn điều-giới tránh xa sự nói-dối, không nói-dối, tạo dục-giới đại-thiện-nghiệp không nói-dối.

–   Người phạm điều-giới nói-dối gây ra thiệt hại đến người khác, tạo ác-nghiệp nói-dối.

Quả của đại-thiện-nghiệp không nói-dối với quả của ác-nghiệp nói-dối là hoàn toàn trái ngược lẫn nhau.

*Quả Báu Của Đại-Thiện-Nghiệp Của Người Không Nói-Dối

Người nào giữ gìn ngũ-giới trong sạch và trọn vẹn, trong đó có điều-giới “có tác ý tránh xa sự nói-dối”.

–    Sau khi người ấy chết, dục-giới đại-thiện- nghiệp không nói-dối ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người trong cõi người này.

–    Hoặc sau khi người ấy chết, dục-giới đại- thiện-nghiệp không nói-dối ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau làm vị thiên-nam hoặc thiên-nữ trong cõi trời dục-giới, hưởng mọi sự an-lạc trong cõi trời ấy cho đến hết tuổi thọ.

Sau khi vị chư-thiên chết tại cõi trời ấy, nếu trường hợp dục-giới đại-thiện-nghiệp không nói- dối ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người trong cõi người này.

Thì cả hai trường hợp này, người ấy sẽ có được quả báu tốt của dục-giới đại-thiện-nghiệp không nói-dối trong kiếp quá-khứ của người ấy, đáng hài lòng.

Trong Chú-giải Khuddakapātha giảng giải về 14 quả báu của dục-giới đại-thiện-nghiệp không nói-dối trong kiếp quá-khứ như sau:

Kiếp hiện tại của người ấy

1-   là người có ngũ-quan (5 giác-quan của con người) trong sáng.

2-   là người có giọng nói ngọt ngào, dễ nghe.

3-   là người có đôi hàm răng đều đặn, đẹp đẽ.

4-   là người có thân hình không mập quá.

5-   là người có thân hình không ốm quá.

6-   là người có thân hình không thấp quá.

7-   là người có thân hình không cao quá.

8-   là người có da thịt mịn màng, mềm mại.

9-   là người mà trong miệng có mùi thơm tho thoát ra dễ chịu như mùi hoa sen.

10-  là người nói được nhiều người tin theo, không có ai ganh tỵ.

11-  là người nói được nhiều người muốn nghe.

12-  là người có cái lưỡi mềm mỏng, màu hồng như cánh hoa sen đỏ.

13-  là người có định tâm vững vàng.

14-  là người có lời nói rõ ràng, ý nghĩa sâu sắc, được nhiều người tin tưởng và tôn trọng.

Đó là 14 quả báu tốt của dục-giới đại-thiện-nghiệp không nói-dối mà tiền-kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá-khứ.

Giải thích phạm giới Nói dối

*Quả Xấu Của Ác-Nghiệp Của Người Phạm Điều-Giới Nói-Dối

Người nào phạm điều-giới nói-dối gây ra sự thiệt hại dù ít dù nhiều cũng tạo ác-nghiệp nói-dối.

–    Nếu là ác-nghiệp nói-dối nặng, thì người ấy sau khi chết, ác-nghiệp nói-dối ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi ác-giới, chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy, mới thoát khỏi được cõi ác-giới.

Sau khi thoát khỏi cõi ác-giới, trường hợp nếu có dục-giới đại-thiện-nghiệp nào khác có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người.

–   Và trường hợp, nếu người nào phạm điều- giới nói-dối, tạo ác-nghiệp nói-dối nhẹ, người ấy sau khi chết, ác-nghiệp nói-dối ấy không có cơ hội cho quả tái-sinh, mà dục-giới đại-thiện- nghiệp nào khác có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người.

Thì cả hai trường hợp này, người ấy còn phải chịu quả xấu của ác-nghiệp nói-dối trong kiếp quá-khứ của người ấy.

Quả xấu của ác-nghiệp nói-dối có 14 quả xấu là hoàn toàn trái ngược với quả tốt của đại-thiện- nghiệp không nói-dối như sau:

Kiếp hiện-tại của người ấy

1-  là người có ngũ quan (5 giác quan của con người) không trong sáng.

2-  là người có giọng nói không rõ, khó nghe.

3-  là người có đôi hàm răng không đều đặn, xấu xí.

4-  là người có thân hình quá mập.

5-  là người có thân hình quá ốm.

6-  là người có thân hình quá thấp.

7-  là người có thân hình quá cao.

8-  là người có da thịt sần sùi, xấu xí.

9-  là người mà trong miệng thường thoát ra mùi hôi khó chịu.

10- là người nói không ai tin theo.

11- là người nói không ai muốn nghe.

12- là người có cái lưỡi cứng và ngắn.

13- là người có tâm thường thoái chí nản lòng.

14- là người có tật nói cà lăm, hoặc bị câm điếc.

Đó là 14 quả xấu của ác-nghiệp nói-dối mà tiền-kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá-khứ.

–   Nếu người nói dối không gây ra sự thiệt hại nào đến cho người tin theo lời nói-dối ấy, thậm chí còn đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an-lạc lâu dài cho người tin theo thì người nói-dối tuy phạm giới nói-dối, nhưng không có lỗi.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Giải thích phạm giới Tà dâm

Giải thích phạm giới Tà dâm_maithengoc.com

Giải thích phạm giới Tà dâm

Điều Giới Tà Dâm 

Điều-giới tà-dâm liên quan đến tà-dâm với vợ, chồng, con của người khác, có 2 loại nghiệp:

–   Người giữ gìn điều-giới tránh xa sự tà-dâm, không tà-dâm với vợ, chồng, con của người khác, tạo dục-giới đại-thiện-nghiệp không tà-dâm.

–   Người phạm điều-giới tà-dâm với vợ, chồng, con của người khác, tạo ác-nghiệp tà-dâm.

Quả của đại-thiện-nghiệp không tà-dâm với quả của ác-nghiệp tà-dâm là hoàn toàn trái ngược lẫn nhau.

Giải thích phạm giới Tà dâm_maithengoc.com

*Quả Báu Của Đại-Thiện-Nghiệp Của Người Không Tà-Dâm

Người nào giữ gìn ngũ-giới trong sạch và trọn vẹn, trong đó có điều-giới “có tác-ý tránh xa sự tà-dâm”.

–    Sau khi người ấy chết, dục-giới đại-thiện- nghiệp không tà-dâm ấy có cơ hội cho quả tái- sinh kiếp sau trở lại làm người trong cõi người này.

–    Hoặc sau khi người ấy chết, dục-giới đại- thiện-nghiệp không tà-dâm ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau làm vị thiên-nam hoặc thiên-nữ trong cõi trời dục-giới, hưởng mọi sự an-lạc trong cõi trời ấy cho đến hết tuổi thọ.

Sau khi vị chư-thiên chết tại cõi trời ấy, nếu trường hợp dục-giới đại-thiện-nghiệp không tà- dâm ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người trong cõi người này.

Thì cả hai trường hợp này, người ấy sẽ có được quả báu tốt của dục-giới đại-thiện-nghiệp không tà-dâm trong kiếp quá-khứ của người ấy, đáng hài lòng.

Trong Chú-giải Khuddakapātha giảng giải về 20 quả báu của dục-giới đại-thiện-nghiệp không tà-dâm trong kiếp quá-khứ như sau:

Kiếp hiện-tại của người ấy

1-   là người không có người oan trái.

2-   là người được mọi người thương yêu quý mến.

3-   là người có nhiều của cải giàu sang phú quý.

4-   là người ngủ được an-lạc.

5-   là người thức được an-lạc.

6-   là người có thể tránh được 4 cõi ác-giới.

7-   sinh làm người đàn ông hoàn toàn 100%.

8-   là người có tính nhẫn-nại, ít nóng giận.

9-   là người sinh ra trong dòng họ cao quý, có tính khiêm nhường.

10-  là người có tính minh bạch rõ ràng, không che giấu tội-lỗi.

11-  là người không có tật nguyền, có thân hình xinh đẹp, đáng ngưỡng mộ.

12-  là người có sắc diện trong sáng.

13-  là người được mọi người tin tưởng.

14-  là người có ngũ-quan (5 giác-quan của con người) đầy đủ và tốt đẹp.

15-  là người có tư cách đáng kính.

16-  là người không có chứng bệnh đáng ghê sợ.

17-  là người có trí-tuệ, đời sống được an-lạc.

18-  là người sống nơi nào cũng được an-lạc.

19-  là người không có tai-hại, không có oan trái.

20-  là người thường được sống gần gũi với người thân.

Đó là 20 quả báu tốt của dục-giới đại-thiện- nghiệp không tà-dâm mà tiền-kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá-khứ.

*Quả Xấu Của Ác-Nghiệp Của Người Phạm Điều-Giới Tà-Dâm

Người nào phạm điều-giới tà-dâm với vợ, chồng, con của người khác, tạo ác-nghiệp tà-dâm.

–    Nếu là ác-nghiệp tà-dâm nặng, thì người ấy sau khi chết, ác-nghiệp tà-dâm ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi ác-giới, chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy, mới thoát khỏi được cõi ác-giới.

Sau khi thoát khỏi cõi ác-giới, trường hợp nếu có dục-giới đại-thiện-nghiệp nào khác có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người.

–    Và trường hợp, nếu người nào phạm điều- giới tà-dâm, tạo ác-nghiệp tà-dâm nhẹ, người ấy sau khi chết, ác-nghiệp tà-dâm ấy không có cơ hội cho quả tái-sinh, mà dục-giới đại-thiện- nghiệp nào khác có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người.

Thì cả hai trường hợp này, người  ấy còn phải chịu quả xấu của ác-nghiệp tà-dâm trong kiếp quá-khứ của người ấy.

Quả xấu của ác-nghiệp tà-dâm có 20 quả xấu là hoàn toàn trái ngược với quả tốt của đại-thiện- nghiệp không tà-dâm như sau:

Kiếp hiện-tại của người ấy

1- là người có nhiều người oan trái.

2- là người có nhiều người thù ghét.

3- là người nghèo khổ, thiếu thốn.

4- là người ngủ không được an-lạc.

5- là người thức không được an-lạc.

6- là người khó tránh khỏi 4 cõi ác-giới (địa- ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh).

7- là người ái nam, ái nữ (không phải đàn ông, cũng không phải đàn bà).

8- là người có tính hay nóng giận.

9- là người sinh vào dòng họ thấp hèn, hạng người thấp hèn.

10- là người có tính không minh bạch, hay che giấu tội lỗi.

11- là người có thân hình tật nguyền, xấu xí.

12- là người có sắc diện mặt mày sầu não, khổ tâm.

13- là người bị mọi người coi thường khinh bỉ, không tin tưởng.

14- là người khuyết tật: đui mù, câm điếc,…

15- sinh làm người đàn bà (tiền-kiếp là người đàn ông).

16- là người có nhiều chứng bệnh đáng ghê sợ.

17- là người không biết đủ, sống khổ cực.

18- là người sống nơi nào cũng không được an-lạc.

19- là người thường gặp tai hoạ, hay oan trái với nhiều người.

20- là người sống xa người thân yêu, hay bị ruồng bỏ.

Đó là 20 quả xấu của ác-nghiệp tà-dâm mà tiền-kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá-khứ của người ấy.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Giảng giải tránh xa sự Tà dâm

Giang giai tranh xa su Ta dam maithengoc.com

Giảng giải tránh xa sự Tà dâm

Băng nghe tránh xa sự Tà dâm

Điều giới tránh xa sự tà dâm

Kāmesumicchācārā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Nghĩa phân tích chữ:

–   Kāmesumicchācāra: Kāmesu + micchā + cāra.

–   Kāmesu có nghĩa là trong sự hành-dâm (Kāmesu’ti methunasamācāresu: Kāmesu có nghĩa là hành-dâm).

–   Micchā: Tà, bất chính.

–   Cāra: Hành vi.

–   Veramaṇisikkhāpadaṃ: Veramaṇī + sikkhāpadaṃ

–   Veramaṇī: Tác-ý tránh xa.

–   Sikkhāpadaṃ: Điều-giới, giới.

–   Samādiyāmi: Con xin thọ trì.

–   Kāmesumicchācāra: Hành vi tà, bất-chính xấu xa trong sự hành-dâm, mà chư bậc thiện-trí đều chê trách.

Bậc thiện-trí chê trách những người đàn ông hoặc người đàn bà nào có hành vi tà, bất chính xấu xa trong quan hệ tình-dục, mà không phải là vợ, là chồng của nhau, những người ấy bị phạm điều-giới tà-dâm.

Nếu hai người là vợ, là chồng của nhau đúng theo phong tục tập quán, được sự công nhận của hai bên cha mẹ, bà con dòng họ, và cũng được chính quyền chấp thuận, mọi người công nhận… thì sự quan hệ tình-dục giữa hai vợ chồng với nhau là việc bình thường của người đời, không bị chê trách, không phạm điều-giới tà-dâm.

Người phạm điều-giới tà-dâm chỉ tạo thân ác- nghiệp hoặc thân hành ác mà thôi, không liên quan đến khẩu và ý.

Nghĩa toàn câu: Con xin thọ trì điều-giới, có tác-ý tránh xa sự tà-dâm.

Chi-Pháp Phạm Điều-Giới Tà-Dâm

Người phạm điều-giới tà-dâm khi hợp đủ 4 chi-pháp là:

1-  Đối-tượng người nữ không được quan hệ tình dục (agamaniyavatthu).

2-  Tâm tham muốn quan hệ tình dục (tasmiṃ sevanacittaṃ).

3-   Sự cố gắng hành-dâm (payogo).

4-  Tâm thỏa thích trong sự tiếp xúc giữa hai bộ phận sinh-dục nam với nữ với nhau (maggenamaggapaṭipatti addhivāsaṃ).

Nếu người nào có đầy đủ 4 chi-pháp này thì người ấy phạm điều-giới  tà-dâm.  Nếu  không đủ 4 chi-pháp thì không phạm điều-giới tà-dâm.

Giảng Giải Về Điều-Giới Tà-Dâm

Con trai, đàn ông không được quan hệ tình- dục với 20 người con gái, đàn bà sau đây:

1- Con gái có mẹ trông nom (cha chết hay ở xa).

2- Con gái có cha trông nom (mẹ chết hay ở xa).

3- Con gái có mẹ cha trông nom.

4- Con gái có chị hoặc em gái trông nom.

5- Con gái có anh hoặc em trai trông nom.

6- Con gái có bà con trông nom.

7- Con gái có dòng họ trông nom (nếu con gái ở ngoại quốc thì có người cùng dân tộc trông nom).

8- Con gái tu hành phạm hạnh có thầy, bạn trông nom.

9- Con gái đã có người quyền thế đến làm mai mối rồi.

10- Con gái đã nhận lễ hứa hôn của đằng trai.

11- Con gái được một người đàn ông chuộc về làm vợ.

12- Con gái đã ưng thuận đi theo người mình yêu làm vợ.

13- Con gái đã ưng thuận làm vợ của một người đàn ông với hy vọng có được của cải.

14- Con gái đã ưng thuận làm vợ của một người đàn ông với hy vọng có được đồ trang sức.

15- Con gái đã làm lễ thành hôn với một người đàn ông đúng theo phong tục tập quán.

16- Con gái nghèo buôn bán đã được một người đàn ông thương yêu, rồi đem về nuôi để làm vợ.

17- Con gái là tù nhân đã được người đàn ông lấy làm vợ.

18- Con gái làm trong công sở đã được người chủ sở lấy làm vợ.

19- Con gái tôi tớ trong nhà đã được người chủ nhà lấy làm vợ.

20- Con gái chịu làm vợ trong thời gian ngắn. (như các cô kỹ-nữ).

Nếu người con trai, đàn ông nào xúc phạm quan hệ bất chính hành-dâm với 1 trong 20 người con gái, đàn bà nêu trên thì người đàn ông ấy phạm điều-giới tà-dâm.

Tuy nhiên trong 20 hạng con gái ấy, 8 hạng con gái phần đầu kể từ “con gái có mẹ trông nom” cho đến “con gái là người tu hành phạm-hạnh” tuy có người thân trông nom bảo vệ, nhưng những người thân này không phải là chủ cuộc đời của họ. 8 hạng con gái này là người chưa có chồng, chưa có người đàn ông nào làm chủ cuộc đời của họ.

Vì vậy, nếu 8 người con gái này tự ý lén lút yêu thương một người con trai còn độc-thân khác, và hai người này đã có quan hệ tình-dục với nhau.

Nếu xét về điều-giới tà-dâm thì người con  gái ấy không phạm điều-giới tà-dâm, chỉ có người con trai phạm điều-giới tà-dâm mà thôi, bởi vì người con trai ấy đã xúc phạm đến người con gái mà người thân của cô ấy chưa cho phép.

Tuy người con gái không phạm điều-giới tà- dâm, nhưng đó là hành vi xấu xa không đúng theo phong tục tập quán, đáng bị mọi người chê trách, cha mẹ, bà con dòng họ bị mang tiếng xấu.

Cho nên, người con gái ấy cảm thấy hổ-thẹn tội-lỗi, ăn năn hối-hận, đó là phiền-não làm cho tâm bị ô nhiễm.

Sau khi người con gái ấy chết, nếu ác-nghiệp hối hận ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau thì sinh trong cõi ác-giới (địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh). 12 hạng con gái còn lại, kể từ hạng con gái thứ 9 cho đến hạng con gái thứ 20, là người con gái đã có chồng, đã có người đàn ông làm chủ cuộc đời của họ (cô kỹ-nữ ưng thuận làm vợ của một người đàn ông trong thời gian ngắn, cô vẫn được xem như đã có chồng).

Trong 12 hạng con gái này, nếu người con gái nào tự ý ngoại tình và có quan hệ tình-dục với một người đàn ông nào khác (không phải là chồng của mình), thì người con gái, đàn bà ấy phạm điều-giới tà-dâm.

Như vậy, người con trai, đàn ông không được phép quan hệ tình-dục với 20 hạng con gái ấy. Nếu người con trai, đàn ông nào có quan hệ tình-dục với 1 trong 20 người con gái ấy, thì người con trai, đàn ông ấy phạm điều-giới tà-dâm.

*   Và nếu người con gái, đàn bà nào có quan hệ tình-dục với người đàn ông, con trai đã có vợ hoặc có vợ mà chưa cưới thì người con gái, đàn bà ấy phạm điều-giới tà-dâm, bởi vì người đàn ông, con trai ấy đã có vợ làm chủ.

Giảng giải tránh xa sự Tà dâm

Ác-Nghiệp Nặng – Nhẹ Của Điều-Giới Tà-Dâm

–  Nếu người nào phạm điều-giới tà-dâm với người có giới đức thì người ấy tạo ác-nghiệp nặng.

–  Nếu người nào phạm điều-giới tà-dâm với người không có giới đức, thì người ấy tạo ác-nghiệp nhẹ.

–  Nếu người nào phạm điều-giới tà-dâm bằng cách hiếp-dâm, dù với người không có giới, thì người ấy vẫn tạo ác-nghiệp nặng.

–  Nếu người nào phạm điều-giới tà-dâm giữa hai bên nam nữ cùng thỏa thuận với nhau, thì người ấy tạo ác-nghiệp nhẹ.

–  Nếu người nào phạm điều-giới tà-dâm với bậc Thánh-nhân, thì người ấy tạo ác-nghiệp nặng hơn phạm điều-giới tà-dâm với hạng phàm-nhân.

–  Nếu người nào phạm điều-giới tà-dâm với bậc Thánh-nhân càng cao, thì người ấy tạo ác- nghiệp càng nặng.

–  Nếu người nào hiếp-dâm bậc Thánh nữ A- ra-hán thì người ấy tạo ác-nghiệp nặng nhất.

Như trường hợp tên Nanda hiếp-dâm Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Uppalavaṇṇā, là bậc Thánh A-ra-hán. Tên Nanda đã phạm tội nặng làm cho mặt đất nứt nẻ ra hút y vào sâu trong lòng đất.

Sau khi tên Nanda chết, ác-nghiệp tà-dâm ấy cho quả tái-sinh vào cõi đại-địa-ngục Avīci, chịu quả khổ suốt thời gian lâu dài.

Vấn Đề Liên Quan Đến Tà-Dâm

Người đàn bà nào đã có chồng, nghĩa là người đàn bà đã có người đàn ông làm chủ và cũng đã chấp nhận làm vợ của người đàn ông ấy rồi. Như vậy, phần thân xác của cô đã có chủ, cô có phận sự giữ gìn thân xác của mình, chỉ dành cho người chồng của cô mà thôi.

Nếu cô ấy ngoại tình, yêu một người đàn ông khác, và có quan hệ tình-dục với người đàn ông ấy, thì cô đã tự trộm-cắp thân xác đã có chủ đem trao cho người đàn ông khác, cho nên cô ấy phạm điều-giới tà-dâm.

Cũng tương tự như vậy, người đàn ông đã có vợ, nghĩa là người đàn ông đã có một người đàn bà làm chủ và cũng đã chấp nhận làm chồng của người đàn bà ấy rồi. Như vậy, phần thân xác của ông ấy đã có chủ, ông ấy có phận sự giữ gìn thân xác của mình, chỉ dành cho người vợ của mình mà thôi.

Nếu ông ấy ngoại tình, yêu một người đàn bà nào khác, và có quan hệ tình-dục với người đàn bà ấy, thì ông đã tự trộm-cắp thân xác đã có chủ đem trao cho người đàn bà khác, cho nên ông ấy phạm điều-giới tà-dâm.

Vấn: Trong đời, nếu đàn ông đã có người vợ cả rồi, còn có thêm người vợ lẽ nữa. Như vậy, người đàn ông ấy có phạm điều-giới tà-dâm hay không?

Đáp: Người đàn ông ấy phạm điều-giới tà-dâm, và cũng có thể không phạm điều-giới tà-dâm.

Trường hợp phạm điều-giới tà-dâm:

Người đàn ông đã có vợ, rồi lén lút ngoại tình, yêu một người đàn bà khác như một nhân tình hoặc như người vợ lẽ, và có quan hệ tình- dục bất chính, nên người đàn ông ấy đã tự trộm- cắp thân xác của mình đã có vợ cả làm chủ, đem trao cho người đàn bà khác.

Vì vậy, người đàn ông ấy phạm điều-giới tà-dâm

Trường hợp không phạm điều-giới tà-dâm:

Người đàn ông đã có vợ rồi, người vợ không có con để nối dòng dõi. Người đàn ông ấy muốn có người vợ lẽ. Chính người vợ sẽ đi hỏi cưới người đàn bà khác đem về cho chồng mình làm người vợ lẽ.

Như vậy, người vợ cả đã đồng ý chia quyền làm chủ thân xác của người chồng cho người vợ lẽ.

Cho nên, người chồng được phép quan hệ tình-dục với người vợ lẽ, mà không phạm điều- giới tà-dâm.

Vấn: Trường hợp đồng tính luyến ái có phạm điều-giới tà-dâm hay không?

Đáp: Đối với người tại gia cư sĩ, nếu hai người đàn ông độc thân với nhau, hoặc hai người đàn bà độc thân với nhau, thì họ không phạm điều-giới tà-dâm, nhưng đó là hành vi không thuận theo lẽ tự nhiên trong đời mà bậc thiện-trí chê trách.

Còn đối với bậc xuất-gia, nếu có hành vi đồng tính luyến ái như vậy thì chắc chắn phạm điều-giới hành-dâm, không còn phẩm-hạnh của bậc xuất-gia nữa.

Vấn: Người đàn bà hoặc người đàn ông có quan hệ tình dục với loài gia súc (chó, khỉ,…) có phạm điều-giới tà-dâm hay không?

Đáp: Trong trường hợp ấy, có thể phạm điều- giới tà-dâm và cũng có thể không phạm điều- giới tà-dâm.

Trường hợp phạm điều-giới tà-dâm:

Nếu người đàn bà nào đã có chồng, hoặc người đàn ông nào đã có vợ rồi, mà có quan hệ tình-dục với loài gia súc (chó, khỉ…), thì người đàn bà ấy hoặc người đàn ông ấy phạm điều- giới tà-dâm.

Ví dụ: Trong thời kỳ Đức-Phật còn hiện hữu trên thế gian, bà Mallikā(1) chánh-cung hoàng-hậu của Đức-vua Pasenadi Kosala phạm điều-giới tà- dâm với con chó trong phòng tắm. Đức-vua nhìn thấy nhưng bà nói-dối là không có làm như vậy.

Bà chánh-cung hoàng-hậu Mallikā vốn là người cận-sự-nữ có đức tin trong sạch nơi Tam- bảo, có trí-tuệ, hết lòng thành kính làm phước bố-thí cúng-dường đến Đức-Phật cùng chư Đại- đức tỳ-khưu-Tăng.

Thế mà, sau khi bà chết, do giới không trong sạch, ác-nghiệp ấy có cơ hội cho quả tái-sinh trong cõi địa-ngục suốt 7 ngày.

Đến ngày thứ 7 mới mãn quả của ác-nghiệp, rồi được tái-sinh lên cõi trời Tusita (Đâu-xuất đà-thiên là cõi trời thứ 4 trong 6 tầng trời dục giới) hưởng mọi sự an-lạc của cõi trời ấy.

Và trong Tạng-Luật, phần giới tỳ-khưu có một tỳ-khưu phạm điều-giới hành-dâm với con khỉ cái.

Do đó, Đức-Phật chế định thêm vào điều-giới thứ nhất như sau:

“Tỳ-khưu nào hành-dâm với người hoặc loài súc-sinh, tỳ-khưu ấy bị phạm điều-giới pārājika mất phẩm-hạnh tỳ-khưu”.

Đối với người tại gia cư sĩ độc thân  (không có vợ hoặc không có chồng), mà hành-dâm với loài gia súc (chó, khỉ, …) có chủ, là phạm điều- giới tà-dâm.

Trường hợp không phạm điều-giới tà-dâm:

Người tại gia cư sĩ độc thân (không có vợ hoặc không có chồng) nếu hành-dâm với loài gia-súc (chó, khỉ, …) vô chủ, thì không phạm điều-giới tà-dâm. Nhưng đó là một hành vi đáng xấu hổ, trái với luân thường đạo lý, đáng chê trách; bởi vì không phù hợp với phong tục tập quán ở đời.

Sự hành-dâm là sự quan hệ tình-dục giữa nam và nữ, đó là việc bình thường xảy ra đối với một số người tại gia trong đời.

Người thiện-trí hành phạm-hạnh cao quý có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm tránh xa sự hành-dâm.

Nếu người cận-sự-nam, cận-sự-nữ nào thọ trì bát-giới uposathasīla trong những ngày giới hằng tháng thì người cận-sự-nam, cận-sự-nữ ấy tránh xa sự hành-dâm với vợ hoặc chồng của mình trong những ngày giới ấy.

Những tu-nữ hoặc những người sống trong chùa thực-hành phạm-hạnh cao quý thọ trì bát-giới uposathasīla thì họ tránh xa sự hành-dâm suốt đời. Những bậc xuất-gia là vị sa-di, vị tỳ-khưu thực hành phạm-hạnh cao-quý đều tránh xa sự hành- dâm trọn đời xuất gia.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Giải thích phạm giới Trộm cắp

Giải thích phạm giới Trộm cắp_maithengoc.com

Giải thích phạm giới Trộm cắp

Điều Giới Trộm Cắp

Điều giới trộm cắp liên quan đến của cải tài sản của người khác, có 2 loại nghiệp:

–    Người giữ gìn điều giới tránh xa sự trộm cắp, không trộm cắp, tạo dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp.

–    Người phạm điều giới trộm cắp của cải tài sản của người khác, tạo ác nghiệp trộm cắp.

Quả của đại thiện nghiệp không trộm cắp với quả của ác nghiệp trộm cắp là hoàn toàn trái ngược lẫn nhau.

Giải thích phạm giới Trộm cắp_maithengoc.com

Quả Báu Của Đại Thiện Nghiệp Của Người Không Trộm Cắp

Người nào giữ gìn ngũ giới trong sạch và trọn vẹn, trong đó có điều giới “có tác ý tránh xa sự trộm cắp”.

–  Sau khi người ấy chết, dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp ấy có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau trở lại làm người trong cõi người này.

– Hoặc sau khi người ấy chết, dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp ấy có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau làm vị thiên nam hoặc thiên nữ trong cõi trời dục giới, hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời ấy cho đến hết tuổi thọ.

Sau khi vị chư thiên chết tại cõi trời ấy, nếu trường hợp dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người trong cõi người này.

Thì cả hai trường hợp này, người ấy sẽ có được quả báu tốt của dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp trong kiếp quá khứ của người ấy, đáng hài lòng.

Trong Chú giải Khuddakapātha giảng giải về 11 quả báu của dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp trong kiếp quá khứ như sau:

Kiếp hiện tại của người ấy

1 – là người có nhiều của cải quý giá, giàu sang.

2 – có đầy đủ của cải, tài sản như lúa gạo, vàng bạc, châu báu,…

3 – là người có nhiều của cải, tài sản lớn lao, giàu sang phú quý, tiêu dùng không sao hết được.

4 – nếu chưa có thứ của cải nào thì sẽ có thứ của cải ấy.

5 – đã có những thứ của cải quý giá nào như vàng bạc, ngọc ngà, châu báu,… rồi, thì những thứ của cải quý giá ấy được giữ gìn duy trì bền vững lâu dài.

6 – mong muốn những thứ của cải quý giá nào, thì chắc chắn mau chóng thành tựu như ý.

7 – có được những thứ của cải, tài sản lớn lao mà không bị thiệt hại do lửa thiêu cháy, không do nước lũ cuốn trôi, không do kẻ trộm cướp chiếm đoạt, không do nhà Vua tịch thu, không do người không ưa thích chiếm đoạt.

8 – khi đã có của cải tài sản rồi, chính mình là người sở hữu của cải tài sản ấy, không có liên quan với người khác.

9 – là người có khả năng chứng đắc được pháp siêu tam giới (4 Thánh đạo, 4 Thánh quả, Niết bàn).

10 – là người không thường nghe đến danh từ “không có”, bởi vì muốn thứ nào thì có ngay thứ ấy.

11 – là người sống được an lạc.

Đó là 11 quả báu tốt của dục giới đại thiện nghiệp không trộm cắp mà tiền kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá khứ.

Quả Xấu Của Ác Nghiệp Của Người Phạm Điều Giới Trộm Cắp

Người nào phạm điều giới trộm cắp lấy trộm của cải tài sản của người khác dù ít dù nhiều cũng tạo ác nghiệp trộm cắp.

–   Nếu có ác nghiệp trộm cắp nặng, thì sau khi người ấy chết, ác nghiệp trộm cắp ấy có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau trong cõi ác giới, chịu quả khổ của ác nghiệp ấy cho đến khi mãn quả của ác nghiệp ấy, mới thoát khỏi được cõi ác giới.

Sau khi thoát khỏi cõi ác giới, trường hợp nếu có dục giới đại thiện nghiệp nào khác có cơ hội cho quả thì tái sinh kiếp sau trở lại làm người.

–   Và trường hợp, nếu người nào phạm điều giới trộm cắp, tạo ác nghiệp trộm cắp nhẹ, người ấy sau khi chết, ác nghiệp trộm cắp nhẹ ấy không có cơ hội cho quả tái sinh, mà dục  giới đại thiện nghiệp nào khác có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau trở lại làm người.

Thì cả hai trường hợp này, người ấy còn phải chịu quả xấu của ác nghiệp trộm cắp trong kiếp quá khứ của người ấy.

Quả xấu của ác-nghiệp trộm cắp có 11 quả xấu là hoàn toàn trái ngược với quả tốt của đại thiện nghiệp không trộm cắp như sau:

Kiếp hiện tại của người ấy

1 – là người không thể có những thứ của cải quý giá.

2 – là người thiếu thốn những nhu yếu phẩm như lúa gạo, tiền bạc, đồ dùng, v.v…

3 – là người nghèo khổ túng thiếu của cải.

4 – là người không phát triển được những thứ của cải.

5 – là người khi làm ra được của cải quý giá, thì không giữ gìn được lâu dài.

6 – là người không thể có được thứ của cải mà mình mong muốn.

7 – là người khi có được của cải, thì thường bị thiệt hại do lửa thiêu cháy, do nước lũ cuốn trôi, do kẻ trộm chiếm đoạt, do nhà nước tịch thu, v.v…

8 – là người có được của cải thì cũng liên quan đến nhiều người, không riêng cho mình được.

9 – là người khó chứng đắc được 9 pháp siêu tam giới (4 Thánh đạo, 4 Thánh quả, Niết bàn).

10 – là người thường nghe đến danh từ “không có”.

11 – là người sống không được an lạc.

Đó là 11 quả xấu của ác nghiệp trộm cắp mà tiền kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá khứ.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Giảng giải tránh xa sự Trộm cắp

Giảng giải tránh xa sự Trộm cắp_maithengoc.com

Giảng giải tránh xa sự Trộm cắp

Băng nghe tránh xa sự Trộm cắp

Điều giới tránh xa sự Trộm cắp

Người lấy, chiếm đoạt của cải, tài sản mà người chủ không cho, bằng cách trộm cắp, cướp giật, lường gạt, đánh tráo, lừa dối, v.v… đều bị phạm điều giới trộm cắp.

Adinnādānā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Nghĩa phân tích chữ:

–   Adinnādānā: Adinna + ādānā

–   Adinna: Của cải, tài sản mà chủ nhân không cho, chủ nhân giữ gìn.

–   Ādānā: Lấy, chiếm đoạt.

–   Veramaṇisikkhāpadaṃ: Veramaṇī + sikkhāpadaṃ

–   Veramaṇī: Tác-ý tránh xa.

–   Sikkhāpadaṃ: Điều giới, giới.

–   Samādiyāmi: Con xin thọ trì.

Adinnādānā: Lấy, chiếm đoạt của cải, tài sản mà chủ nhân không cho phép hoặc chủ nhân đang giữ gìn.

Nghĩa toàn câu:

Con xin thọ trì điều giới, có tác ý tránh xa sự trộm cắp.

Chi Pháp Phạm Điều Giới Trộm Cắp

Người phạm điều giới trộm cắp khi hợp đủ 5 chi pháp:

1- Của cải có chủ giữ gìn (parapariggahitaṃ).

2- Biết rõ của cải có chủ giữ gìn (parapariggahitasaññitā).

3- Tâm nghĩ trộm cắp (theyyacittaṃ).

4- Cố gắng trộm cắp (payogo).

5- Lấy được của cải ấy do sự cố gắng (avahāro).

Nếu người nào có đầy đủ 5 chi pháp này thì người ấy phạm điều giới trộm cắp. Nếu không đủ 5 chi pháp thì không phạm điều giới trộm cắp.

Giảng giải tránh xa sự Trộm cắp_maithengoc.com

Giảng Giải Về Điều Giới Trộm Cắp

Của cải: Đó là các thứ tài sản tiền của, vàng bạc châu báu, …; các thú vật như voi, ngựa, trâu, bò, …; các thứ sở hữu trí tuệ, … là những thứ của cải giá trị có chủ.

Tác Ý Bất Thiện Tâm Trộm Cắp Có 2 Cách:

Bằng thân: tự mình chiếm đoạt của cải người khác.

Bằng khẩu: dùng lời nói lường gạt, hoặc sai khiến người chiếm đoạt của cải người khác đem về cho mình.

Cố gắng trộm cắp có 6 cách:

1- Do chính mình trộm cắp của cải người khác.

2- Sai khiến người trộm cắp của cải người khác.

3- Ném hàng hóa, đồ đạc qua các trạm thu thuế, cửa khẩu,… để trốn thuế.

4- Sai khiến người rằng: “Chờ có cơ hội hãy trộm cắp của cải ấy” không hạn định thời gian.

5- Dùng bùa chú, thuốc mê làm cho người chủ mê muội, rồi chiếm đoạt của cải.

6- Dùng thần thông lấy nước hồ để uống (trường hợp vị sa di xin nước hồ để uống, Long vương giữ hồ không cho; vị sa di này dùng thần thông bay lên hư không, rồi đáp xuống hồ, để lấy nước hồ uống).

Trường hợp này không gọi là trộm cắp, vì người chủ là Long vương giữ hồ, và lượng nước hao tốn không đáng kể.

Ác Nghiệp Nặng – Nhẹ Của Điều Giới Trộm Cắp

Ác nghiệp nặng hoặc ác nghiệp nhẹ của điều giới trộm cắp được căn cứ vào giá trị của cải, tài sản nhiều hoặc ít; và căn cứ vào chủ nhân có giới đức hoặc không có giới đức.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản có giá trị nhiều thì ác nghiệp nặng.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản có giá trị ít thì ác nghiệp nhẹ.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản của bậc xuất gia sa di, tỳ khưu thì ác nghiệp nặng.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản của người tại gia cư sĩ thì ác nghiệp nhẹ.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản của cá nhân thì ác nghiệp nhẹ.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản của chung, của nhà nước thì ác nghiệp nặng.

– Nếu người trộm cắp tài sản của bậc Thánh nhân thì ác nghiệp nặng.

– Nếu người trộm cắp tài sản của hạng phàm nhân thì ác nghiệp nhẹ.

– Nếu người trộm cắp của cải, tài sản của chư Đại đức tỳ khưu Tăng thì ác nghiệp nặng hơn cả.

25 Cách Trộm Cắp

25 cách trộm cắp được chia ra làm 5 phần, mỗi phần có 5 cách.

1- Nānābhaṇḍa pañcaka: Trộm cắp các của cải, tài sản nhiều loại có 5 cách:

1.1- Ādiyana adinnādāna: Một người muốn chiếm đoạt của cải, tài sản như đất đai, nhà cửa,… của người khác, bằng cách thưa kiện ra tòa.

Trường hợp này người có mưu đồ chiếm đoạt tài sản của người chủ mà không liên quan đến nợ nần, tài sản thế chấp, mà đó chỉ là mưu đồ muốn làm chủ đất đai tài sản hoặc nhà cửa người khác.

Việc ra tòa xét xử lâu ngày, khiến cho người chủ nản lòng, có ý nghĩ buông bỏ tài sản ấy rằng:

“Tài sản của ta, chắc chắn sẽ thuộc về của người khác rồi”.

Như vậy, người có mưu đồ chiếm đoạt của cải, tài sản (đất đai, nhà cửa,…) của người khác hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

1.2- Haraṇa adinnādāna: Một người làm thuê mang của cải người khác đến một nơi đã định. Trong khi đang mang của cải đi trên đường, người ấy phát sinh tâm tham, muốn chiếm đoạt làm của mình. Khi tâm nghĩ trộm cắp phát sinh, người ấy chỉ cần di chuyển của cải ấy rời khỏi chỗ cũ chút đỉnh, ví dụ như từ vai phải sang vai trái, hoặc từ tay phải sang tay trái.

Như vậy, người làm thuê mang của cải ấy hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

1.3- Avaharaṇa adinnādāna: Ông A nhận giữ hộ của cải của ông B; về sau, ông B đến gặp ông A xin lấy lại những thứ của cải mà trước đây ông B đã gửi gắm nhờ ông A giữ hộ. Ông A có tâm tham muốn chiếm đoạt của cải của ông B, nên ông A đã phủ nhận rằng:

“Tôi chưa bao giờ nhận giữ hộ của cải của ông”.

Khi ông B, người chủ của cải không còn hy vọng lấy lại của cải của mình, và nghĩ rằng:

“Của cải mà ta đem gởi cho ông A giữ hộ trước kia, bây giờ xem như đã mất rồi”.

Như vậy, ông A nhận giữ hộ  của  cải  của ông B, rồi chiếm đoạt của cải ấy, ông A hội đủ  5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

1.4- Iriyāpatha vikopana adinnādāna: Chủ nhân đang ngồi hoặc đang nằm, hoặc đang đứng,… tại nơi của cải, tài sản của mình. Người trộm cướp muốn chiếm đoạt số của cải, tài sản ấy, nên đã hăm dọa người chủ nhân phải rời khỏi nơi ấy, để y chiếm đoạt của cải ấy.

Khi bắt buộc chủ nhân phải rời khỏi nơi ấy, dù 1 – 2 bước, thì người trộm cướp ấy hội đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

1.5- Ṭhānācāvana adinnādāna: Các báu vật mà chủ nhân đặt để một nơi, kẻ trộm cướp nhìn thấy, phát sinh tâm tham, muốn trộm cắp báu vật ấy.

Kẻ ấy chỉ cần di chuyển báu vật ấy rời khỏi vị trí chỗ cũ chút ít, thì kẻ ấy hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

2- Ekabhanda pañcaka: Trộm cắp những sinh vật có sinh mạng, có 5 cách:

2.1- Ādiyana adinnādāna: Người muốn chiếm đoạt những sinh vật có sinh mạng như các loài gia súc của người khác, bằng cách thưa kiện.

Đến khi chủ nhân của các loài gia súc kia nản lòng buông bỏ và nghĩ rằng:

“Đàn gia súc của ta chắc chắn sẽ thuộc về người khác”.

Như vậy, người chiếm đoạt hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

2.2- Haraṇa adinnādāna: Một người làm thuê dắt con bò đi đến một nơi đã định. Trên đường đi, người ấy phát sinh tâm tham, muốn chiếm đoạt con bò ấy trở thành của mình.

Sau khi suy nghĩ xong, người ấy chỉ cần dắt bò đi theo con đường khác hoặc có ý trao từ tay này sang tay khác.

Như vậy, người làm thuê ấy đã hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

2.3- Avaharaṇa adinnādāna: Ông A nhận giữ hộ con bò của ông B. Về sau, ông B đến gặp ông A xin nhận lại con bò mà trước đây ông đã nhờ ông A giữ hộ, nhưng ông A có tâm tham, muốn chiếm đoạt con bò của ông B, nên ông A đã phủ nhận rằng:

“Tôi chưa bao giờ nhận giữ hộ con bò của ông”.

Khi ông B không còn hy vọng nhận lại con bò của mình được nữa, thì nghĩ rằng:

“Chắc chắn ta không thể lấy lại con bò được”.

Như vậy, ông A đã nhận giữ hộ con bò mà không chịu trả lại, hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

2.4- Iriyāpatha vikopana adinnādāna: Người, hoặc trâu, bò,… đang đi, đứng, nằm, tại một địa điểm nào đó; người có tâm tham muốn bắt cóc người để vụ lợi, hoặc bắt trộm trâu, bò dắt đi bán.

Khi người, hoặc trâu, bò chỉ cần bị di chuyển 1 – 2 bước khỏi nơi ấy mà thôi, người ấy đã hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

2.5- Ṭhānācāvana adinnādāna: Chủ nhân đang nhốt trâu, bò ở trong chuồng. Người có tâm tham, muốn dắt trộm trâu, bò ra khỏi chuồng.

Khi trâu, bò bị dắt ra khỏi chuồng 1 – 2 bước mà thôi, là người ấy đã hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

3- Sahatthika pañcaka: Chính tự mình trộm cắp, có 5 cách:

3.1- Sahatthika adinnādāna: Chính tự mình trộm cắp của cải, tài sản của người khác.

Như vậy, người ấy hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

3.2- Āṇattika adinnādāna: Sai khiến người khác đi trộm cắp của cải, tài sản của người khác. Và người bị sai đi đã trộm cắp của cải, tài sản ấy.

Như vậy, người sai khiến hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp, và người bị sai cũng phạm điều giới trộm cắp.

3.3- Nissaggiya adinnādāna: Giấu hàng hóa để trốn thuế.

Như vậy, người giấu hàng hóa ấy hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

3.4- Atthasādhaka adinnādāna: Người ra lệnh cho nhóm thuộc hạ tay sai đi trộm-cắp của cải của người khác, nếu khi có cơ hội, không hạn định thời gian. Và nhóm thuộc hạ đã đi trộm cắp của cải ấy.

Như vậy, người ra lệnh phạm điều giới trộm cắp, và nhóm thuộc hạ cũng phạm điều giới trộm cắp.

3.5- Dhuranikkhepa adinnādāna: Người vay mượn tiền của người khác, hoặc nhận lãnh cất giữ tài sản của cải của người khác. Khi người chủ nhân đến đòi nợ, hoặc xin nhận lại tài sản của cải đã gửi gắm. Người vay mượn (con nợ) hoặc người nhận lãnh cất giữ của cải từ chối rằng:

“Tôi không hề vay mượn tiền của của ông, hoặc tôi không hề nhận lãnh cất giữ tài sản của cải cho ông”.

Người chủ nhân quyết định buông bỏ rằng:

“Tiền của, hoặc tài sản của cải của ta chắc chắn đã bị người ấy chiếm đoạt rồi”.

Ngay khi ấy, người vay mượn tiền của, hoặc người nhận lãnh cất giữ của cải mà không trả lại, hợp đủ 5 chi pháp phạm điều giới trộm cắp.

4 – Pubbapayoya pañcaka: Phạm điều giới trộm cắp trước khi lấy trộm tài sản, của cải của người khác, có 5 cách:

4.1 – Pubbapayoya adinnādāna: Người ra lệnh cho người khác đi trộm cắp rằng:

“Bằng mọi cách ngươi phải trộm-cắp cho được của cải ấy”.

Khi ra lệnh xong, người ấy phạm điều giới trộm cắp ngay khi ấy.

4.2 – Sahapayoya adinnādāna: Người nào phát sinh tâm trộm cắp tài sản, của cải của người khác, đồng thời cố gắng di chuyển tài sản, của cải ra khỏi chỗ cũ. Người ấy phạm điều giới trộm cắp.

Người nào phát sinh tâm gian lận, lấn chiếm đất đai của người khác, đồng thời cố gắng dời cột mốc ranh giới sang phần đất của người bên cạnh. Người ấy phạm điều giới trộm cắp.

4.3 – Saṃvidāvahāra adinnādāna: Một nhóm người (từ 2 người trở lên) hợp thành nhóm cùng nhau đi trộm cướp. Trong nhóm người ấy, nếu có một người nào trộm cướp được của cải, tài sản của người khác, thì cả nhóm người ấy đều phạm điều giới trộm cắp.

4.4 – Saṅketakamma adinnādāna: Người sai khiến bọn thuộc hạ đi trộm cắp, có quy định thời gian rõ ràng, ví dụ vào lúc nửa đêm 24 giờ chẳng hạn.

–   Nếu bọn thuộc hạ thực hiện hành động trộm cắp đúng theo giờ quy định (24 giờ), thì người sai khiến phạm điều giới trộm cắp, và bọn thuộc hạ cũng phạm điều giới trộm cắp.

Nếu bọn thuộc hạ thực hiện hành động trộm cắp vào lúc thời gian sớm hoặc muộn hơn thời gian quy định (trước hoặc sau 24 giờ) thì người sai khiến không phạm điều giới trộm cắp, chỉ có bọn thuộc hạ phạm điều giới trộm cắp mà thôi.

4.5- Nimittakamma adinnādāna: Người sai khiến bọn thuộc hạ đi trộm cắp, theo hiệu lệnh như vỗ tay, huýt gió… để thực hiện hành động trộm-cắp.

–   Nếu bọn thuộc hạ thực hiện hành động trộm cắp đúng theo hiệu lệnh, thì người sai khiến phạm điều giới trộm cắp, và bọn thuộc hạ cũng phạm điều giới trộm cắp.

–   Nếu bọn thuộc hạ thực hiện hành động trộm cắp mà không theo hiệu lệnh đã quy định, thì người sai khiến không phạm điều giới trộm cắp, chỉ có bọn thuộc hạ phạm điều giới trộm cắp mà thôi.

5- Theyyāvahāra pañcaka: Trộm cắp bằng cách lừa bịp, có 5 cách:

5.1- Theyyāvahāra adinnādāna: Người bán hàng cân hàng hóa thiếu, bán đồ giả, buôn bán hàng lậu, trốn thuế,… người ấy phạm điều giới trộm cắp.

5.2- Pasayhāra adinnādāna: Người dùng vũ khí (súng, dao,…) để hăm dọa người khác, bắt buộc người khác phải trao của cải, vàng bạc,… Người ấy phạm điều giới trộm cắp.

5.3- Parikappāvahāra adinnādāna: Người muốn trộm cắp một thứ nào đó, dù đã được thứ ấy, hoặc được một thứ nào khác, mà vẫn hài lòng, thì người ấy phạm điều giới trộm cắp.

5.4- Paṭicchannāvahāra adinnādāna: Một người vào nhà người khác nhìn thấy món đồ quý giá (nhẫn kim cương, hột xoàn, v.v…) mà người chủ để trên bàn. Người ấy phát sinh tâm tham, muốn chiếm đoạt món đồ ấy trở thành của mình, nên đã lấy món đồ ấy đem giấu kín một nơi khác, chờ cơ hội người chủ đi khỏi nơi đó, mới lấy món đồ ấy đem đi.

Trong khi lấy món đồ ấy đem giấu kín một nơi, người ấy chưa phạm điều giới trộm cắp.

Đến khi người chủ tìm không thấy món đồ của mình, do công việc gấp phải đi khỏi nơi đó và có ý định sau khi xong công việc sẽ trở lại tìm kỹ hơn.

Khi người chủ rời khỏi nơi đó rồi, người trộm cắp lấy món đồ ấy, người ấy phạm điều giới trộm cắp.

5.5- Kusāvahāra adinnādāna: Trộm cắp lấy món đồ quý giá của người khác rồi thay thế vào đó món đồ không giá trị của mình.

Ví dụ: Một người lấy chiếc đồng hồ đắt giá của người khác, rồi thay thế vào đó một chiếc đồng hồ xấu, rẻ tiền của mình; hoặc có hai gói quà, một gói có tên của mình và một gói là tên của người khác, người ấy nhìn thấy gói quà có tên của người khác gồm các món đồ quý giá,  còn gói quà có tên của mình gồm các món đồ tầm thường, nên người ấy liền bóc miếng giấy ghi tên của mình gắn vào gói quà của người khác, và bóc miếng giấy ghi tên của người khác gắn vào gói quà của mình, v.v…

Người có tâm tham thay đổi món đồ xấu lấy đồ tốt, hoặc thay đổi tên của mình thế vào chỗ tên của người khác,… người ấy phạm điều giới trộm cắp.

Phạm Điều Giới – Không Phạm Điều Giới Trộm Cắp

Để biết có phạm điều giới trộm cắp hay không phạm điều giới trộm cắp thì căn cứ vào tác ý (cetanā).

–   Nếu người có tác ý trong bất thiện tâm hợp đủ 5 chi pháp của điều giới trộm cắp thì phạm điều giới trộm cắp. Nếu có tác ý trong bất thiện tâm mà không đủ chi-pháp của điều giới trộm cắp thì không phạm điều giới trộm cắp.

Ví dụ: Nhìn thấy con mèo cắn chết con gà của người khác, người ấy bắt buộc con mèo thả con gà ra để cho y ăn thịt.

Vậy, người ấy đã phạm điều giới trộm cắp.

Nhưng khi nhìn thấy con mèo bắt con gà còn sống, người ấy bắt buộc con mèo thả con gà ra, để cứu mạng con gà, không cho con mèo ăn thịt con gà.

Vậy, người ấy không phạm điều giới trộm cắp, mà còn tạo được phước thiện cứu mạng.

Trường hợp ông Bà-la-môn Doṇa là người đứng ra làm trung gian phân chia Xá lợi của Đức Phật Gotama cho các nước lớn; Đức vua mỗi nước thỉnh Xá lợi Phật đem về, rồi tạo ngôi Bảo tháp để tôn thờ Xá lợi Đức Phật.

Trong khi phân chia Xá lợi Đức Phật, ông Bà la môn Doṇa thỉnh ‘Xá lợi Răng nhọn’ giấu kín trên đầu tóc của mình, để tôn thờ.

Đức vua trời Sakka trên cõi trời Tam thập tam thiên nhìn thấy, suy xét rằng:

“Ông Bà la môn Doṇa không thể có một ngôi Bảo tháp xứng đáng để tôn thờ Xá lợi Răng nhọn của Đức Phật. Ta nên hiện xuống thỉnh Xá lợi Răng nhọn về cõi trời này”.

Suy nghĩ xong, Đức vua trời Sakka hiện xuống cõi người, thỉnh ‘Xá-lợi Răng nhọn’ từ trên đầu tóc của ông Bà la môn Doṇa, mà ông chẳng hề hay biết. Đức vua trời Sakka thỉnh về tôn thờ trong ngôi Bảo tháp Cūḷāmaṇī tại cung trời Tam thập tam thiên, để cho toàn thể chư thiên lễ bái cúng dường.

Như vậy, Đức vua trời Sakka không phạm điều giới trộm cắp, bởi vì Đức vua trời là bậc Thánh Nhập lưu có tác ý tâm sở đồng sinh với đại thiện tâm cung kính, có giới đức hoàn toàn trong sạch trọn vẹn, nên chỉ có nhiều phước  thiện cung kính mà thôi.

Như vậy, người phạm điều giới trộm cắp hay không phạm điều giới trộm cắp do căn cứ vào tác ý (cetanā) là chính. Nếu người có tác ý tâm sở đồng sinh với bất thiện tâm, rồi tạo ác nghiệp trộm cắp do thân hoặc khẩu thì phạm điều giới trộm cắp; nhưng nếu người có tác ý tâm sở đồng sinh với đại thiện tâm, rồi tạo đại thiện nghiệp do thân hoặc khẩu thì không phạm điều giới, mà chỉ tạo đại thiện nghiệp mà thôi.

Cho nên, để biết người nào có phạm điều giới hoặc không phạm điều giới, thì nên hỏi rõ người ấy có tác ý như thế nào, rồi mới quyết định phạm điều giới hay không phạm.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Giảng giải tránh xa sự Sát sinh

Giang giai tranh xa su Sat sinh maithengoc.com

Giảng giải tránh xa sự Sát sinh

Băng nghe tránh xa sự Sát sinh

Điều Giới Tránh Xa Sự Sát Sinh

Thật ra, tất cả chúng sinh đều chết cả thảy, không ngoại trừ một ai cả. Mỗi chúng sinh chết do hết tuổi thọ, do mãn nghiệp hỗ trợ, do hết  tuổi thọ và mãn nghiệp hỗ trợ, đó gọi là chết đúng thời (kālamaraṇa).

Pāṇātipātā veramaṇisikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Nghĩa từng chữ:

–   Pāṇātipātā: Pāṇā + atipātā.

–   Pāṇā: Chúng sinh, tất cả mọi chúng sinh lớn nhỏ có sinh mạng.

–   Atipātā: Rơi mau, lìa mau.

–   Veramaṇisikkhāpadaṃ: Veramaṇī + sikkhāpadaṃ.

–   Veramaṇī: Tác ý tránh xa.

–   Sikkhāpadaṃ: Điều giới, giới.

–   Samādiyāmi: Con xin thọ trì.

–   Pāṇātipātā: Hành động làm cho chúng sinh lìa bỏ sinh mạng trước thời gian hạn định hết tuổi thọ của chúng sinh ấy, nghĩa là giết hại chúng sinh ấy chết trước thời gian hạn định tuổi thọ của chúng sinh ấy.

Trường hợp chúng sinh có thể duy trì, kéo dài sinh mạng thêm cho đến hết tuổi thọ, đến mãn nghiệp hỗ trợ… nhưng chúng sinh ấy bị người khác giết hại, cắt đứt dòng sinh mạng  trước  thời gian hạn định tuổi thọ của chúng sinh ấy, gọi là pāṇātipātā: giết hại chúng sinh.

Nếu người nào có tác ý tâm sở đồng sinh với bất thiện tâm giết hại chúng sinh hợp đủ chi pháp của điều giới sát sinh, thì người ấy phạm điều giới sát sinh.

Nghĩa toàn câu:

Con xin thọ trì điều-giới, có tác ý tránh xa sự sát-sinh.

Giảng giải tránh xa sự Sát sinh_maithengoc.com

Chi Pháp Phạm Điều Giới Sát Sinh

Phạm điều giới sát sinh hợp đủ 5 chi pháp:

1- Chúng sinh có sinh mạng (pāṇo).

2- Biết rõ chúng sinh có sinh mạng (pāṇasaññitā).

3- Tâm nghĩ giết hại chúng sinh (vadhakacittaṃ).

4- Cố gắng giết hại chúng sinh (payogo).

5- Chúng sinh ấy chết do sự cố gắng (tena maraṇaṃ).

Nếu người nào có đầy đủ 5 chi pháp này thì người ấy phạm điều giới sát sinh. Nếu không  đủ 5 chi pháp thì không phạm điều giới sát sinh.

Giảng Giải:

Sát hại chúng sinh nghĩa là gì?

Chúng sinh còn có sinh mạng, có nhiều loại chúng sinh khác nhau, dù lớn dù nhỏ mỗi chúng sinh cũng đều có sinh mạng.

Sinh mạng này phát sinh do nghiệp, còn các loài thực vật, cây cỏ, núi non, v.v… đều không có sinh mạng.

Mỗi loài chúng sinh được gọi tên, được biết qua những danh từ chế định thuộc về chế định pháp (paññattidhamma) bằng mỗi danh từ ngôn ngữ, tiếng nói khác nhau, nhưng đúng theo sự  thật chân nghĩa pháp (paramatthasacca), thì chỉ có 3 pháp là tâm, tâm sở, sắc pháp mà thôi.

Danh từ gọi “chúng sinh” còn sinh mạng do căn cứ vào ngũ uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn của mỗi chúng sinh ấy, nhưng đúng theo sự thật chân nghĩa pháp thì chỉ có sắc-pháp (rūpadhamma) và danhpháp (nāmadhamma) mà thôi.

* Sắc uẩn thuộc về sắc pháp đó là phần thân.

* Thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn thuộc về danh pháp đó là phần tâm.

Chúng sinh còn sinh mạng có đủ thân và tâm, trong thân có sắc mạng chủ (jīvitindriyarūpa) và trong tâm có danh mạng chủ (jīvitindriya nāma).

* Sắc mạng chủ (jīvitindriyarūpa) thuộc về sắc pháp có trạng thái sinh rồi diệt liên tục không ngừng, có phận sự bảo hộ, duy trì thân trong mỗi kiếp chúng sinh.

Sắc mạng chủ bị hạn định trong mỗi kiếp chúng sinh, không liên quan với kiếp sau.

* Danh mạng chủ (jīvitindriyacetasika) thuộc về tâm sở đồng sinh với tâm có trạng thái sinh rồi diệt liên tục không ngừng theo các lộ trình  tâm. Danh mạng chủ có phận sự bảo hộ danh pháp (tâm và tâm sở) từ kiếp này sang kiếp khác, từ vô thuỷ trải qua vô số kiếp  quá khứ  đến kiếp hiện tại, dù cho mỗi kiếp thay đổi do năng lực của nghiệp và quả của nghiệp, thì danh mạng chủ vẫn có phận sự bảo hộ danh pháp (tâm và tâm sở) của chúng sinh ấy.

* Nếu chúng sinh ấy chết thì danh mạng chủ đó là tâm sở đồng sinh với tâm rời khỏi thân. Thân không còn sắc mạng chủ, nên thân trở thành thi thể, xác chết.

Như vậy, người sát hại chúng sinh đúng theo sự thật chân nghĩa pháp (paramatthasacca) đó chỉ là cắt đứt sắc mạng chủ (jīvitindriyarūpa) thuộc về sắc pháp của kiếp chúng sinh ấy mà thôi. Còn danh mạng chủ (jīvitindriyacetasika) đồng sinh với tâm có trạng thái sinh rồi diệt liên tục không ngừng, từ kiếp này sang kiếp khác, thay đổi do năng lực nghiệp và quả của nghiệp trong mỗi kiếp, nên danh mạng chủ không thể bị cắt đứt được.

* Thật vậy, Đức Phật ngự đến bên bờ hồ Gaggarā thuyết pháp tế độ dân chúng Campā.

Một con ếch sống dưới hồ Gaggarā nhảy lên nghe giọng phạm âm của Đức Phật. Khi ấy, một người chăn bò đến đứng chống cây lắng nghe pháp, vô ý đụng phải ngay cái đầu con ếch chết tại chỗ.

Sau khi con ếch chết, phước thiện hoan hỷ giọng phạm âm của Đức Phật, đại thiện nghiệp ấy cho quả tái sinh kiếp sau hoá sinh làm vị thiên nam tên Maṇḍūkadevaputta  có hào quang sáng ngời trên cõi trời Tam thập tam thiên, trong lâu đài nguy nga tráng lệ có các thiên nữ hầu hạ, hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời ấy, cho đến khi mãn quả của đại thiện nghiệp ấy.

* Ngài Đại Trưởng lão Mahāmoggallāna bị bọn cướp đánh tan xương nát thịt, chúng tưởng Ngài Đại Trưởng lão đã chết, đem ném Ngài Đại Trưởng lão vào bụi cây, rồi bỏ đi.

Ngài Đại Trưởng lão vận dụng phép thần thông gắn thân thể lại, rồi bay đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin phép tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới.

Như vậy, người sát hại chúng sinh là người cắt đứt sắc mạng chủ thuộc về sắc pháp trong thân của kiếp chúng sinh ấy. Còn danh mạng chủ thuộc về danh pháp vẫn sinh rồi diệt liên tục kiếp kế tiếp, rồi từ kiếp này sang kiếp kia trong vòng tử sinh luân hồi trong 3 giới 4 loài, tuỳ theo nghiệp và quả của nghiệp của mỗi chúng sinh.

Đối với chư bậc Thánh A-ra-hán tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới, nên tất cả mọi thiện nghiệp và mọi ác nghiệp từ vô thuỷ đến kiếp hiện tại đều trở thành vô hiệu quả nghiệp (ahosikamma), bởi vì không còn tái sinh kiếp sau nữa.

Cho nên, khi bậc Thánh A-ra-hán tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới, thì đồng thời danh mạng chủ tâm sở đồng diệt với tâm, chấm dứt phận sự bảo hộ danh pháp (tâm và tâm sở), bởi vì bậc Thánh A- ra-hán không còn tái sinh kiếp sau nữa.

Tác ý ác tâm giết hại chúng sinh có 2 cách

–  Bằng thân: tự chính mình giết hại chúng sinh ấy.

–  Bằng khẩu: sai khiến người khác giết hại chúng sinh ấy.

Cố gắng giết hại chúng sinh có 6 cách:

1-   Tự mình giết hại chúng sinh.

2-   Sai khiến người khác giết hại chúng sinh bằng lời nói, bằng chữ viết, hoặc bằng cách ra hiệu, v.v…

3-   Phóng lao, ném dao, bắn tên, bắn súng, v.v… làm cho chúng sinh ấy chết.

4-   Người làm ra những thứ vũ khí để giết hại chúng sinh có tính cách lâu dài như đào hầm,  đặt bẫy, rèn gươm giáo, đúc súng đạn, bom, thuốc độc, v.v… Hễ khi nào có người sử dụng những thứ vũ khí ấy, thuốc độc ấy để giết hại chúng sinh, thì người tạo ra những thứ vũ khí ấy, thuốc độc ấy phạm điều giới sát sinh, bởi vì, người ấy có tác ý trong ác tâm giết hại chúng sinh có tính cách lâu dài.

5-   Sử dụng bùa chú, phù phép, trù ếm, v.v… làm cho chúng sinh ấy chết.

6-   Sử dụng phép thuật của mình giết hại chúng sinh.

Ác Nghiệp Nặng – Nhẹ Của Điều Giới Sát Sinh

Ác nghiệp nặng hoặc ác nghiệp nhẹ của điều giới sát sinh được căn cứ vào chúng sinh lớn hoặc nhỏ; có giới đức hoặc không có giới đức; giới đức nhiều hoặc giới đức ít, v.v…

*   Chúng Sinh Có Thân Hình Lớn – Nhỏ:

–   Nếu người giết hại chúng sinh có thân hình to lớn như con voi, con trâu, con bò, v.v… thì tạo ác nghiệp nặng, vì phải cố gắng nhiều.

–   Nếu người giết hại chúng sinh có thân hình nhỏ như con kiến, con muỗi, con ruồi, v.v… thì tạo ác nghiệp nhẹ, vì cố gắng ít.

*   Chúng Sinh Có Giới Đức – Không Giới Đức:

–   Nếu người giết hại con người thì tạo ác nghiệp nặng hơn giết hại loài súc vật.

–   Nếu người giết hại người có giới thì tạo ác nghiệp nặng hơn giết hại người không có giới.

–   Nếu người giết hại bậc Thánh nhân, thì tạo ác nghiệp nặng hơn giết hại hạng phàm nhân.

–   Nếu người giết hại Thánh nhân bậc cao thì tạo ác nghiệp nặng hơn giết hại Thánh nhân bậc thấp.

–   Nếu người nào giết bậc Thánh A-ra-hán, giết cha, giết mẹ của mình, thì người ấy tạo ác nghiệp nặng nhất vì thuộc về ác nghiệp vô gián trọng tội (ānantariyakamma).

Sau khi người ấy chết, chắc chắn ác nghiệp vô gián trọng tội ấy cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci, (không có nghiệp nào có thể ngăn cản được), chịu khổ thiêu đốt suốt thời gian lâu dài, cho đến khi mãn quả của ác nghiệp ấy mới mong thoát khỏi cõi địa ngục.

*   Tự Sát

Người tự sát có phạm điều giới sát sinh hay không?

Người phạm điều giới sát sinh hay không phạm điều giới sát sinh cần phải xét theo 5 chi pháp của điều giới sát sinh.

1-   Chúng sinh có sinh mạng (pāṇo)(mình).

2-   Biết rõ chúng sinh có sinh mạng (pāṇa saññitā). (Chi pháp này ám chỉ đến chúng sinh khác, không phải chính mình).

3-   Tâm nghĩ giết hại chúng sinh (vadhakacitta).

4-   Cố gắng giết hại chúng sinh (payogo) (cố gắng tự sát, tự giết mình).

5-   Chúng sinh ấy chết do sự cố gắng ấy (tena maraṇaṃ) (mình chết do sự cố gắng của mình).

Xét thấy trong 5 chi pháp của điều giới sát sinh này, chi pháp thứ nhì “paṇasaññitā”: “biết rõ chúng sinh ấy có sinh mạng” này ám chỉ đến chúng sinh khác, không phải chính mình.

Trong trường hợp người tự giết mình (tự sát) thì thiếu chi pháp paṇasaññitā này. Cho nên, người tự giết mình (tự sát) không đủ 5 chi pháp phạm điều giới sát sinh.

Vậy, người tự sát không phạm điều giới sát sinh.

Ví dụ: Trường hợp Ngài Trưởng lão Channa dùng dao cắt cổ tự sát, trước khi chết Ngài Trưởng lão thực hành pháp hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý tứ Thánh đế, chứng đắc 4 Thánh đạo, 4 Thánh quả, Niết bàn, diệt đoạn tuyệt được mọi tham ái, mọi phiền não không còn dư sót, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, đồng thời tịch diệt Niết bàn, gọi là bậc Thánh A-ra- hán Jīvitasamasīsi (A-ra-hán Thánh quả đồng thời tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới).

Như trong bài kinh Channasutta được tóm lược như sau:

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngự tại ngôi chùa Veḷuvana gần kinh thành Rājagaha. Khi ấy, Ngài Trưởng lão Channa bị lâm bệnh nặng trầm trọng, vô cùng đau đớn không thể kham nhẫn nổi.

Vào buổi chiều, Ngài Đại Trưởng lão Sāri putta và Ngài Trưởng lão Mahācunda đến thăm hỏi bệnh tình của Ngài Trưởng lão Channa.

Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta hỏi rằng:

– Này hiền đệ Channa! Hiền đệ có kham nhẫn nổi thọ khổ không?

Tứ đại của hiền đệ có điều hòa được không?

Thọ khổ của hiền đệ giảm bớt, chứ  không tăng có phải không?

Bệnh tình giảm rõ ràng, chứ không tăng có phải không?

Ngài Trưởng lão Channa thưa rằng:

– Kính thưa Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta, đệ không thể kham nhẫn nổi thọ khổ.

Tứ đại của đệ không điều hòa được.

Thọ khổ của bệnh không thuyên giảm, mà lại tăng lên.

Bệnh tình tăng lên rõ ràng, mà không giảm bớt. Bạch Ngài Đại Trưởng lão.

– Kính thưa Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta:

Ví như một người đàn ông mạnh mẽ dùng cây sắt nhọn bén đâm vào đầu như thế nào, bệnh phong (gió) cực kỳ khủng khiếp đâm xoáy vào đầu của đệ cũng như thế ấy.

Ví như một người đàn ông lực lưỡng dùng sợi dây bằng da dẻo dai, bền chắc, siết chặt cái đầu như thế nào, bệnh phong cực kỳ khủng khiếp siết chặt cái đầu của đệ cũng như thế ấy.

Ví như người giết bò hoặc người phụ của người giết bò, dùng con dao mổ bụng con bò như thế nào, bệnh phong cực kỳ khủng khiếp đâm xoáy vào bụng của đệ cũng như thế ấy.

Ví như hai người đàn ông lực lưỡng, mỗi người một bên nắm tay chân của người ốm yếu đặt lên hầm lửa đang cháy, nướng người ấy nóng bỏng như thế nào, sự nóng trong thân của đệ còn hơn thế ấy.

– Kính thưa Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta, đệ không thể kham nhẫn nổi thọ khổ.

Tứ đại của đệ không điều hòa được.

Thọ khổ của bệnh không thuyên giảm mà lại tăng lên.

Bệnh tình tăng lên rõ ràng, mà không giảm bớt. Bạch Ngài Đại Trưởng-lão.

Ngài Trưởng lão Channa thưa tiếp rằng:

–    Kính thưa Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta, đệ sẽ đem con dao để tự cắt cổ giết hại mình, đệ không còn muốn sống để phải chịu nỗi đau đớn khủng khiếp như thế này nữa.

Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta khuyên rằng:

–    Này hiền đệ Channa! Hiền đệ nên dùng thuốc chữa trị. Hiền đệ dùng thuốc chữa trị để duy trì sinh mạng, chúng tôi muốn hiền đệ dùng thuốc chữa trị để duy trì sinh mạng.

Nếu vật thực không thích hợp với hiền đệ thì tôi sẽ tìm vật thực thích hợp.

Nếu thuốc trị bệnh không thích hợp với hiền đệ thì tôi sẽ tìm thứ thuốc thích hợp.

Nếu người nuôi bệnh không thích hợp với hiền đệ thì tôi sẽ làm người nuôi bệnh lo săn sóc hiền đệ.

Xin hiền đệ chớ nên dùng dao tự sát.

Tiếp theo Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta nhắc nhở Ngài Trưởng lão Channa về các pháp như 6 thức tâm với 6 đối tượng và liên quan đến các pháp: tham ái, ngã mạn, tà kiến chấp thủ và không chấp thủ do bởi tham ái, ngã mạn, tà kiến.

Ngài Trưởng lão Mahācunda cũng nhắc nhở Ngài Trưởng lão Channa rằng:

“Đối với người không còn có tham ái, ngã mạn, tà kiến, thì tâm của bậc ấy không bao giờ bị lay chuyển, …”

Sau khi nhắc nhở khuyên dạy Ngài Trưởng lão Channa xong, Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta và Ngài Trưởng lão Mahācunda trở về chỗ ở của quý Ngài.

Khi ấy, Ngài Trưởng lão Channa không thể kham nhẫn nổi sự đau đớn vô cùng  khủng  khiếp của bệnh phong ấy, nên Ngài Trưởng lão dùng con dao tự cắt cổ giết chết mình để thoát khỏi nỗi thọ khổ ấy.

Ngài Trưởng lão vẫn còn là phàm nhân có giới trong sạch và trọn vẹn, nên trước khi chết, Ngài Trưởng lão thực hành pháp hành thiền tuệ liền dẫn đến chứng ngộ chân lý tứ Thánh đế, chứng đắc 4 Thánh đạo, 4 Thánh quả, Niết bàn, diệt đoạn tuyệt được mọi tham ái, mọi phiền não không còn dư sót, đồng thời tịch diệt Niết bàn gọi là “Bậc Thánh A-ra-hán Jīvitasamasīsi” (nghĩa là khi chứng đắc A-ra-hán Thánh quả đồng thời tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới).

Sau khi Ngài Trưởng-lão Channa đã tự mình cắt cổ chết, Ngài Đại Trưởng lão Sāriputta đến hầu Đức Thế Tôn tại ngôi chùa Veḷuvana bạch hỏi về kiếp sau của Ngài Trưởng lão Channa như thế nào?

Đức-Phật dạy rằng:

“Tỳ khưu Channa đã chứng đắc A-ra-hán Thánh quả đồng thời tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới”.

Tích Ngài Trưởng lão Channa đã chứng minh:

“Tự sát không phạm điều giới sát sinh”.

Nếu tự sát là phạm điều giới sát sinh, thì Ngài Trưởng lão Channa không thể chứng đắc thành bậc Thánh A-ra-hán.

Sự thật, kiếp này là kiếp chót của Ngài Trưởng lão Channa, nên Ngài chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán rồi mới tịch diệt Niết bàn.

Cho nên, người tự sát không phạm điều giới sát sinh, bởi vì thiếu chi pháp thứ nhì là “pāṇasaññitā”: biết rõ chúng sinh có sinh mạng (nghĩa là chính mình biết rõ chúng sinh khác có sinh mạng).

Như vậy, chi pháp này không ám chỉ mình, mà ám chỉ chúng sinh khác. Cho nên, người tự sát không phạm điều giới sát sinh.

* Tuy người tự sát không phạm điều giới sát sinh, nhưng nếu người tự sát do sân tâm chán đời, tuyệt vọng không muốn sống trên đời này nữa thì sau khi người ấy chết, nếu ác nghiệp sân tâm ấy có cơ hội cho quả thì tái sinh trong cõi ác giới: địa ngục, a su ra, ngạ quỷ, súc sinh, chịu quả khổ cho đến khi mãn quả của nghiệp ấy, mới thoát khỏi cõi ác giới ấy.

Như Đức Phật dạy:

“Evameva  kho  bhikkhave  citte  saṅkiliṭṭhe duggatiṃ paṭikaṅkhā”.

–    Này chư tỳ khưu! Như vậy, khi lâm chung ác tâm do phiền não ô nhiễm sẽ tái sinh trong cõi ác giới: địa ngục, a su a, ngạ quỷ, súc sinh.

Những Trường Hợp Liên Quan Đến Sự Chết

Người hy sinh sinh mạng vì một mục đích cao thượng, với đại thiện tâm thiện chí của mình.

Ví dụ: Trong bộ Visuddhimagga: Thanh Tịnh Đạo phần Sīlaniddesa, Ngài Trưởng lão hành đạo sống ở trong rừng.

Một hôm, bọn cướp gặp Ngài Trưởng lão tại khu rừng, chúng cho là điều xui xẻo sẽ xảy đến với chúng, nên chúng bắt trói Ngài Trưởng lão bằng một đoạn đầu dây rừng tươi còn dính gốc, đặt Ngài nằm tại nơi ấy, rồi bỏ đi.

Khu rừng chẳng may xảy ra vụ hỏa  hoạn, đám cháy dần dần lan đến chỗ Ngài Trưởng lão, Ngài suy xét rằng:

“Nếu ta muốn lánh khỏi nạn chết thiêu thì phải làm cho sợi dây rừng bị đứt, ta sẽ bị phạm điều giới pācittiya.

Sự chết là điều chắc chắn sẽ xảy đến với ta, không sao tránh khỏi được (nghĩa là tránh khỏi chết hôm nay, sau này cũng phải chết).

Thà rằng, hôm nay ta chịu hy sinh sinh mạng, quyết giữ gìn giới mà Đức Phật đã chế định đến tỳ khưu”.

Sau khi quyết định như vậy, Ngài Trưởng lão vốn có giới đức hoàn toàn trong sạch và trọn  vẹn làm nền tảng, làm nơi nương nhờ, nên Ngài Trưởng lão thực hành pháp hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý tứ Thánh đế, chứng đắc 4 Thánh đạo, 4 Thánh quả, Niết bàn, diệt đoạn tuyệt được mọi tham ái, mọi phiền não, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, đồng thời đám cháy lan đến thiêu đốt Ngài Trưởng lão tịch diệt Niết bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới.

* Để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, Đức Bồ tát Chánh Đẳng Giác cần phải tạo đầy đủ 30 pháp hạnh ba la mật: 10 pháp hạnh ba la mật bậc thường, 10 pháp hạnh ba la mật bậc trung và 10 pháp hạnh bậc thượng.

Để thành tựu pháp-hạnh ba-la-mật bậc thượng nào, Đức Bồ tát Chánh Đẳng Giác cần phải hy sinh sinh mạng của mình để thành tựu pháp hạnh ba la mật bậc thượng ấy.

Sự hy sinh sinh mạng của chư Đức Bồ tát Chánh Đẳng Giác vì mục đích cao thượng, để thành đạt ý nguyện trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác với đại thiện tâm thiện chí trong sạch và cao cả, thì không thể gọi là phạm điều giới sát sinh.

Như vậy, dù là người tự sát, hoặc Đức Bồ tát Chánh Đẳng Giác hy sinh sinh mạng, vẫn không phạm điều giới sát sinh, bởi vì không hợp đủ 5 chi pháp của điều giới sát sinh.

Trường Hợp Phạm Điều Giới Sát Sinh, Không Phạm Điều Giới Sát Sinh

Vấn: Một người đi chợ mua thịt hay cá chết đem về làm đồ ăn có phạm điều giới sát sinh hay không?

Đáp: Căn cứ theo 5 chi pháp phạm điều giới sát sinh, thì không có một chi pháp nào cả.

Vậy người ấy không phạm điều giới sát sinh.

Vấn: Trong 2 trường hợp sau đây, người mua thịt cá có phạm điều giới sát sinh hay không?

*    Một người đi chợ đến hàng bán tôm, cá, người ấy không chịu mua những con tôm, cá đã chết, mà chọn lấy những con tôm, cá còn sống, bảo người bán hàng làm thịt những con tôm, cá ấy, rồi mua đem về làm đồ ăn.

*    Một người đi chợ đến hàng bán thịt gà, không chịu mua thịt gà đã làm sẵn, mà chỉ vào con gà đang còn sống, bảo với người bán hàng rằng:

Ông (bà) hãy làm thịt con gà kia bán cho tôi.

Đáp: Căn cứ theo 5 chi pháp phạm điều giới sát sinh, thì hội đủ cả 5 chi pháp. Cho nên, 2 trường hợp này, người bán phạm điều-giới sát- sinh và người mua cũng phạm điều giới sát sinh.

Vấn: Một người làm bếp đi chợ mua những con cá còn sống, con gà còn sống, đem về làm món ăn cho ngon miệng người chủ.

Vậy, người làm món ăn, và người chủ dùng món ăn, người nào phạm điều giới sát sinh, tạo ác nghiệp?

Đáp: Căn cứ theo 5 chi pháp phạm điều giới sát sinh, người làm bếp giết cá, giết gà làm món ăn cho chủ; người làm bếp ấy phạm điều giới sát sinh, tạo ác nghiệp sát sinh, vì hội đầy đủ 5 chi pháp phạm điều giới sát sinh.

*    Trường hợp người chủ bảo người làm bếp phải mua cá còn sống, gà còn sống về làm món ăn cho mình, thì người chủ cũng phạm điều giới sát sinh, tạo ác nghiệp sát sinh.

*    Trường hợp người chủ chẳng hay biết gì về người làm bếp giết cá, giết gà, chỉ có biết dùng những món ăn mà người làm bếp dọn lên bàn mà thôi, thì người chủ không phạm điều giới sát sinh, vì không có chi pháp nào trong 5 chi phạm điều giới sát sinh.

Vấn: Một người vô ý đóng cửa làm chết một con thằn lằn nằm ngay ngạch cửa. Người ấy có phạm điều giới sát sinh hay không?

Đáp: Người ấy không phạm điều giới sát sinh, vì thiếu chi pháp tác ý tâm sở trong ác tâm giết hại chúng sinh.

Vấn: Một người tức giận con chó, có tác ý tâm sở đồng sinh với ác tâm muốn đánh chết con chó, nhưng nó không chết mà chỉ bị thương nặng mà thôi.

Lần sau, người ấy lại đánh đuổi con chó ấy, có tác ý tâm sở đồng sinh với ác tâm làm cho nó sợ bỏ đi, nhưng chẳng may đụng nhằm vào vết thương cũ, làm cho con chó ấy chết.

Vậy, người ấy phạm điều giới sát sinh trong lần thứ nhất hay lần thứ nhì?

Đáp: Người ấy đã phạm điều giới sát sinh trong lần thứ nhất, không phải ở lần thứ nhì, bởi vì, lần thứ nhì người ấy đánh đuổi con chó, có tác ý tâm sở đồng sinh với ác tâm làm cho con chó sợ bỏ chạy đi, mà không có tác ý tâm sở đồng sinh với ác tâm giết hại con chó, v.v…

Phạm Điều Giới Sát-Sinh Tạo Ác Nghiệp Trọng Tội

Người nào phạm điều giới sát sinh như giết cha, giết mẹ, giết bậc Thánh A-ra-hán, người ấy đã tạo ác nghiệp trọng tội thuộc về loại nghiệp ānantariyakamma: ác nghiệp vô gián trọng tội.

Sau khi người ấy chết, chắc chắn ác nghiệp vô gián trọng tội ấy cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci, chịu khổ suốt thời gian lâu dài, mà không có một nghiệp nào có khả năng ngăn cản, làm gián đoạn được ác nghiệp ấy.

Những Trường Hợp Giết Cha, Giết Mẹ, Giết Bậc Thánh A-Ra-Hán

*   Trong đêm tối, người con không phân biệt được cha (hoặc mẹ) của mình, tưởng nhầm rằng kẻ trộm lén vào nhà lấy trộm của cải, người con giết kẻ trộm ấy, nhưng sự thật, người bị giết ấy chính là cha (hoặc mẹ) của mình.

Mặc dù vậy, người con vẫn phạm tội giết cha (giết mẹ), bởi vì người con luôn luôn ân hận vì đã giết nhầm cha (mẹ) của mình.

*    Người con bị bỏ rơi từ khi mới sinh ra đời, được cô nhi viện, hoặc người khác nuôi dưỡng.

Khi trưởng thành, người ấy không biết ai là cha, ai là mẹ của mình.

Nếu người ấy giết một người đàn bà, mà người ấy không biết bà ấy là mẹ của mình, hoặc giết một người đàn ông, mà người ấy không biết ông ấy là cha của mình, nhưng về sau, người con được biết người đàn ông ấy là cha, người đàn bà ấy là mẹ của mình, thì người con vẫn phạm tội giết cha (giết mẹ), bởi vì người con ân hận vì đã giết nhầm cha (mẹ) của mình.

*   Người cha biến đổi trở thành nữ giới, người mẹ biến đổi trở thành nam giới. Nếu người con giết người đàn bà (trước kia là cha) hoặc giết người đàn ông (trước kia là mẹ), thì người con vẫn phạm tội giết cha hoặc giết mẹ.

Những trường hợp như:

–   Người con là loài người, còn cha là loài súc sinh và mẹ là loài người (trường hợp công tử Sīhabāhu xứ Srilankā, là con của một Công chúa và một Sư tử chúa).

–   Người con là loài người, còn mẹ là loài súc sinh và cha là loài người (trường hợp Đạo sĩ Migasinga là con của con nai và một vị Đạo sĩ).

–   Con là loài súc sinh, cha mẹ là loài súc sinh.

Trong 3 trường hợp trên, người con giết cha là loài súc sinh, giết mẹ là loài súc sinh; và con là loài súc sinh giết cha mẹ cũng là loài súc sinh; cả 3 trường hợp này người con đã tạo ác nghiệp nặng sát sinh, mà không gọi là ác nghiệp vô gián trọng tội.

*   Một người đánh đập hành hạ một hành giả còn là phàm nhân đang thực hành pháp hành thiền tuệ bị thương nặng, hành giả ấy tiếp tục thực hành pháp hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý tứ Thánh đế, chứng đắc 4 Thánh đạo, 4 Thánh quả, Niết bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán đồng thời tịch diệt Niết bàn, bởi vì bị thương nặng.

Người đánh đập hành hạ ấy phạm tội giết bậc Thánh A-ra-hán, thuộc về ác nghiệp vô gián trọng tội.

Sau khi người ấy chết, chắc chắn ác nghiệp vô gián trọng tội ấy cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci, chịu khổ suốt thời gian lâu dài.

*    Người dùng thuốc diệt muỗi, diệt trừ sâu bọ, v.v… đều phạm điều giới sát sinh, bởi vì hội đầy đủ 5 chi pháp của điều giới sát sinh.

Thuốc Diệt Vi Khuẩn – Vi Trùng

Dùng thuốc để diệt vi khuẩn, vi trùng không phạm điều giới sát sinh; bởi vì vi khuẩn, vi  trùng không có sinh mạng cũng không có tâm thức. Các vật ấy chỉ có tứ đại (đất, nước, lửa, gió) phát sinh do thời tiết nóng lạnh, bên trong, bên ngoài, được phát triển tăng trưởng do hỏa đại, di chuyển do phong đại. Cũng như các loài thực vật (cây, cỏ,…) cũng không có sinh mạng, không có tâm thức.

Trong số 28 sắc pháp, sắc mạng chủ (jīvitin driyarūpa) phát sinh do nghiệp. Các loài vi  khuẩn, vi trùng, các loài cây cỏ phát sinh  do utu: thời tiết và āhāra: vật thực,… Do đó, diệt vi khuẩn, diệt vi trùng, chặt cây, cỏ không phạm điều giới sát sinh.

Trường hợp đàn bà uống thuốc ngừa thai, diệt tinh trùng của đàn ông… không phạm điều giới sát sinh. Nhưng nếu trường hợp người đàn bà uống thuốc có tác ý trong ác tâm phá thai, thì người đàn bà ấy phạm điều giới sát sinh, phạm tội giết con; bởi vì thai nhi sẽ là một đứa con.

Thật ra, khi tái sinh đầu thai vào lòng mẹ đầu tiên, có đại quả tâm tái sinh đầu thai cùng với 3 sắc pháp là sắc thân (kāya), sắc nam tính hoặc sắc nữ tính (bhava) và sắc ý căn (hadayavatthu) nơi nương nhờ của đại quả tâm.

Như vậy, ngay khi đầu thai đã hình thành một chúng sinh còn rất nhỏ, có đủ ngũ uẩn (3 sắc pháp thuộc sắc uẩn, đại quả tâm tái sinh gồm có 4 danh uẩn), thai nhi có đủ ngũ uẩn.

Còn trường hợp người mẹ bị sẩy thai ngoài ý muốn, thì người mẹ không bị phạm điều giới sát sinh, vì thiếu chi pháp tác ý trong ác tâm giết hại chúng sinh.

Phạm điều giới sát sinh này rất vi tế, cũng rất đa dạng, nên tìm hiểu trong Tạng Luật phần giới pārājika: bất cộng trụ của tỳ khưu.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage

Giải thích phạm giới Sát sinh

Giải thích phạm giới Sát sinh

Giải thích phạm giới Sát sinh

Ví dụ về phạm giới Sát sinh

*   Ví dụ 1: Người có giới bị đứt là người phạm điều-giới đầu hoặc điều-giới cuối hoặc điều-giới đầu và điều-giới cuối.

Người nào không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội lỗi, nên giết con gà để ăn thịt, người ấy đã phạm điều-giới sát-sinh. Khi ăn thịt gà cùng với uống rượu, bia nên người ấy phạm điều-giới uống rượu, bia nữa.

Như vậy, người ấy có ngũ-giới bị đứt, bởi vì phạm điều-giới thứ nhất “sát-sinh” và điều-giới thứ 5 “uống rượu, bia”.

*   Ví dụ 2: Người có giới bị thủng là người phạm điều-giới ở giữa của điều-giới đầu và điều- giới cuối.

Người nào không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, nên phát sinh tâm tham đi trộm-cắp, chiếm đoạt của cải tài-sản của người khác, người ấy phạm điều-giới trộm-cắp.

Như vậy, người ấy có ngũ-giới bị thủng, bởi vì phạm điều-giới thứ nhì “trộm-cắp” ở giữa của điều-giới đầu và điều-giới cuối,…

*   Ví dụ 3: Người có giới bị đốm là người phạm các điều-giới cách khoảng nhau:

Người nào không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, nên phát sinh tâm tham đi trộm-cắp tiền bạc của người khác, người ấy phạm điều-giới thứ 2 “trộm-cắp”. Khi người ấy bị nghi ngờ, nên bị điều tra xét hỏi, người ấy nói dối rằng: “Tôi không trộm cắp tiền bạc của ông ấy”. Người ấy đã phạm thêm điều-giới thứ 4 “nói-dối”.

Như vậy, người ấy có ngũ-giới bị đốm, bởi vì phạm điều-giới thứ 2 “trộm-cắp” và điều-giới thứ 4 “nói-dối” cách khoảng nhau.

*   Ví dụ 4: Người có giới bị đứt lan là người phạm các điều-giới theo liền với nhau:

Người nào không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, nên phát sinh tâm tham quan hệ tình dục với vợ (hoặc chồng) của người khác, người ấy phạm điều-giới thứ 3“tà-dâm”. Khi người ấy bị nghi ngờ, nên bị xét hỏi, người ấy nói dối rằng: “Tôi không có tà-dâm với vợ của ông ấy (hoặc với chồng của bà ấy)”. Người ấy đã phạm thêm điều-giới thứ 4 “nói-dối”.

Như vậy, người ấy có ngũ-giới bị đứt lan, bởi vì phạm điều-giới thứ 3 “tà-dâm” và điều-giới thứ 4 “nói-dối” theo liền với nhau.

Giải thích phạm giới Sát sinh

Điều – Giới Sát Sinh

Điều-giới sát-sinh liên quan đến sinh-mạng của chúng-sinh có 2 loại nghiệp:

– Người giữ gìn điều-giới tránh xa sự sát- sinh, không sát-sinh, tạo đại-thiện-nghiệp không sát-sinh.

– Người phạm điều-giới sát-sinh là giết hại chúng-sinh, tạo ác-nghiệp sát-sinh.

Quả của đại-thiện-nghiệp không sát-sinh với quả của ác-nghiệp sát-sinh là hoàn toàn trái ngược lẫn nhau.

* Quả Báu Của Đại Thiện Nghiệp Của Người Không Sát Sinh

Người nào giữ gìn ngũ-giới trong sạch và trọn vẹn, trong đó có điều-giới “có tác-ý tránh xa sự sát-sinh”.

– Sau khi người ấy chết, dục-giới đại-thiện- nghiệp không sát-sinh ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trở lại làm người trong cõi người này.

– Hoặc sau khi người ấy chết, dục-giới đại- thiện-nghiệp không sát-sinh ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau làm vị thiên-nam hoặc thiên-nữ trong cõi trời dục-giới, hưởng mọi sự an-lạc trong cõi trời ấy cho đến hết tuổi thọ.

Sau khi vị chư-thiên chết tại cõi trời ấy, nếu trường hợp dục-giới đại-thiện-nghiệp không sát- sinh ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau  trở lại làm người trong cõi người này.

Thì cả hai trường hợp này, người ấy sẽ có được quả báu tốt của dục-giới đại-thiện-nghiệp không sát-sinh trong kiếp quá-khứ của người ấy, đáng hài lòng.

Trong Chú-giải Khuddakapātha giảng giải 23 quả báu của dục-giới đại-thiện-nghiệp không sát sinh trong kiếp quá-khứ của người ấy như sau:

Kiếp hiện tại của người ấy

1-   có thân hình không tật nguyền, đầy đủ các bộ phận lớn nhỏ trong cơ thể.

2-   có thân hình cân đối xinh đẹp.

3-   là người nhanh nhẹn.

4-   có lòng bàn tay, lòng bàn chân đầy đặn.

5-   có thân hình xinh đẹp, không tỳ vết.

6-   có da thịt mềm mại, hồng hào.

7-   có thân hình sạch sẽ, trong sáng.

8-   có đại-thiện-tâm dũng cảm, không sợ hãi.

9-   có sức khỏe dồi dào.

10-   có giọng nói thanh tao, lời nói ngọt ngào, suôn sẻ.

11-   được mọi người quý mến.

12-   có thuộc hạ tùy tùng, bạn bè đoàn kết thương yêu.

13-   thân tâm được an-lạc tự tại, không hoảng sợ.

14-   không bị tai nạn do khí giới, thuốc độc…

15-   có trí-tuệ sáng suốt.

16-   có nhiều bạn bè thân thiết.

17-   có thân hình đẹp đẽ, đáng quý mến.

18-   có các bộ phận lớn nhỏ trong thân thể đẹp đẽ.

19-   là người ít bệnh hoạn ốm đau.

20-   là người có tâm thường an-lạc.

21-   là người thường được sống gần gũi với con cháu.

22-   là người được trường thọ, sống lâu.

23-   không có một ai có thể mưu sát được.

Đó là 23 quả báu tốt của dục-giới đại-thiện- nghiệp không sát-sinh mà tiền-kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá-khứ.

* Quả Xấu Của Ác Nghiệp Của Người Phạm Điều Giới Sát Sinh

Nếu người nào phạm điều-giới sát-sinh, giết hại sinh-mạng của chúng-sinh, dù lớn dù nhỏ thì người ấy cũng đã tạo ác-nghiệp sát-sinh.

–    Nếu có ác-nghiệp sát-sinh nặng, thì sau khi người ấy chết, ác-nghiệp sát-sinh ấy có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi ác-giới, chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy, mới thoát khỏi  được cõi ác-giới.

Sau khi thoát khỏi cõi ác-giới, trường hợp nếu có dục-giới đại-thiện-nghiệp nào khác có cơ hội cho quả thì tái-sinh kiếp sau trở lại làm người.

–    Và trường hợp, nếu người nào phạm điều- giới sát-sinh, tạo ác-nghiệp sát-sinh nhẹ, người ấy sau khi chết, ác-nghiệp sát-sinh nhẹ ấy không có cơ hội cho quả tái-sinh, mà dục-giới đại- thiện-nghiệp nào khác có cơ hội cho quả tái- sinh kiếp sau trở lại làm người.

Thì cả hai trường hợp này, người ấy còn phải chịu quả xấu của ác-nghiệp sát-sinh trong kiếp quá-khứ của người ấy.

Quả xấu của ác-nghiệp sát-sinh có 23 quả xấu là hoàn toàn trái ngược với quả tốt của đại- thiện-nghiệp không sát-sinh như sau:

Kiếp hiện-tại của người ấy

1-   có thân hình tật nguyền.

2-   có thân hình không cân đối, xấu xí.

3-   là người chậm chạp.

4-   có lòng bàn tay, và dưới lòng bàn chân lõm sâu.

5-   có thân hình xấu xí, đầy sẹo.

6-   có sắc diện tối tăm.

7-   có da thịt sần sùi.

8-   có tính hay sợ hãi.

9-   có sức khỏe yếu đuối.

10-   có tật cà lăm, nói lặp đi lặp lại, không suôn sẻ.

11-   bị mọi người ghét bỏ.

12-   có những thuộc hạ tùy tùng bị chia rẽ.

13-   có tính hay giật mình, hoảng sợ.

14-   thường bị tai nạn do khí giới, thuốc độc…

15-   là người si mê, ngu dốt.

16-   có rất ít bạn bè.

17-   có thân hình dị hợm, đáng ghê sợ.

18-   có thân hình kỳ dị.

19-   là người hay bệnh hoạn ốm đau.

20-   là người thường sầu não, lo sợ.

21-   có con cháu thường xa lánh.

22-   là người bị chết yểu.

23-   là người bị người khác giết chết.

Đó là 23 quả xấu của ác-nghiệp sát-sinh mà tiền-kiếp của người ấy đã tạo trong kiếp quá-khứ.

Các bài viết theo chuỗi về Ngũ giới trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Ngũ giới trong Phật giáo nguyên thuỷ   

Nguồn Theravada

Tham khảo thêm Thiền giữa đời | Youtube | Fanpage