Những mâm cúng Rằm Tháng 7



Câu cầu nguyện bậc cao sau khi làm thiện “ Do sự phước báu mà chúng con/ con đã trong sạch làm đây, hãy là mối duyên lành để thoát khỏi những điều ô nhiễm, ngủ ngầm nơi tâm trong ngày vị lai”.
Nguồn: Sư cô Hương Thiền

Nguồn: Sư cô Hương Thiền
Vạn hữu vũ trụ có muôn màu muôn vẻ. Từ cảnh trí thiên nhiên đến vạn vật, con người, mỗi một đều có sắc thái riêng hoặc đáng yêu, hoặc đáng ghét, hoặc không đáng yêu nhưng không đáng ghét. Đối với những hình sắc đang yêu thì khởi tâm tam, bằng mọi cách phải thu về làm sở hữu cho mình. Với những sắc thái đáng ghét thì khởi tâm quyết tâm phá huỷ cho bằng được, với những sắc không yêu cũng không ghét, thì si mê mờ mịt chẳng màng ra sao cũng được. Yêu ghét là hai mặt của tâm dục. Dục là sự ham muốn thôi thúc trong lòng khiến người ta phải hành động để được thoả mãn. Tâm dục đặt trên các sắc tướng gọi là “Sắc dục”.
Ở đây nói về sắc dục tức là lòng ham muốn đối với tất cả các hình sắc vừa mắt người nhìn như hình sắc nam, nữ xinh đẹp, khôi ngô tuấn tú, mắt phượng, mày ngài, môi hồng má thắm, sắc tướng dễ mến đáng yêu, nhìn chúng rồi sinh lòng tham ái. Đây là tham ái hình sắc nam nữ.
Lại có hạng người đối với sự luyến ái nam nữ tâm nhiễm nhẹ nhàng chẳng sinh chấp trước nhưng lại rất yêu quí các thứ bảo vật thế gian như vàng, bạc, kim cương, ngọc ngà, châu báu ánh lên những màu sắc rực rỡ, hoặc yêu thích những vật dụng đồ dùng cổ xưa, đam mê trong sự sưu tầm tem thư, đồ cổ.
Lại có người yêu thích vẻ đẹp thiên nhiên cỏ cây hoa lá, say mê với chậu kiểng, giàn lan, v.v…
Thông thường, nói đến sắc dục là nhấn mạnh vào sự đắm sắc của nam nữ, tình ái si mê, trai yêu sắc gái, gái đắm hình trai, ân ái qua bao kiếp buộc ràng nhau không có kỳ chấm dứt. Lại có người chỉ yêu chuộng tự thân, cứ trau chuốt, điểm trang cho nó sang đẹp rồi tự hào, kiêu căng về nhan sắc của mình, không ngờ đây chính là hoạ hại. Vì nhan sắc dẫn đến ái dục, nó là một loại cạm bẫy, nó ngọt ngào mời gợi lòng dục của người khác phái, thách thức với lòng ganh tị của người cùng phái, nó nhận chìm chính đương sự và đối tượng cam tâm chịu chết trong ái dục mà không có khả năng từ khước. Lăn lộn trong biển dục mênh mông, làm nô lệ cho sắc tình, rất đau khổ mà người ta vẫn đắm đuối không chịu tránh xa như con thiêu thân biết sẽ thiệt mạng mà vẫn cứ lao vào ngọn lửa.
Người đuổi theo sắc dục không biết chán như người uống nước muối, càng uống càng khát, càng đắm mê thì hoạ hại càng lắm, tự đem mình vào chỗ hang hùm miệng sói mà vẫn không sợ. Sắc dục làm cho bản thân chóng tàn cỗi, bệnh hoạn lại thêm nhiều phiền não khổ đau. Những thiên tình sử đẫm lệ cũng xuất phát từ sự đam mê tình ái. Vì sắc dục một người hiền lương có thể trở thành tướng cướp, một con người hiếu thuận có thể trở nên ngỗ nghịch làm khổ cha me, một người chồng tốt, một người vợ đảm đang có thể đánh mất lòng chung thuỷ làm cho gia đình ly tán, con cái bơ vơ. Trong lịch sử có biết bao anh hùng hảo hán chỉ vì đắm sắc mà phải tan thân mất mạng. Các vị vua chúa vì sắc dục mà quốc phá gia vong, thân bại danh liệt lưu tiếng xấu muôn đời.

Đam mê sắc dục là tự phá hoại đời mình, đó là hạng phàm phu tự dìm mình xuống chỗ bùn lầy. Đức Phật ví họ như một đứa bé dại khờ vì tham tiếc một chút mật trên lưỡi dao bén, le lưỡi liếm mà phải chịu cái hoạ đứt lưỡi, hoặc như người ngu si cầm đuốc đi ngược gió ắt phải bị cháy tay. Sắc dục hại người hơn cả thú dữ, hơn cả nước lũ vì nó mê hoặc người làm việc xấu ác, tạo tai họa nhiều kiếp sâu dày, chịu trầm theo: kienthuc.net.vn 34 Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy số 28 (tháng 3) luân khổ sở không thể nào thoát khỏi.
Nhận thức rõ hoạ hại của sắc dục Đức Phật dạy các đệ tử Ngài phải dè dặt đừng để đắm luyến sắc đẹp. Ngài khẳng định sức mạnh của sắc dục như sau: “Sự ham muốn không gì hơn sắc đẹp, sự ham muốn sắc đẹp ngoài nó không có gì lớn bằng, cũng may chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có cái gì thứ hai bằng nó thì người khắp thiên hạ không ai có thể tu hành được”.
Con người có nhiều ham muốn, trong đó ham muốn sắc đẹp tức sắc dục là nặng hơn hết. Chỉ một mình nó là hơn hết nên còn có người khả dĩ tu được, khả dĩ vượt qua nổi.
Tất cả các loài sinh trong vũ trụ đều do dục mà ra. Ái dục là bản chất của mọi đời sống. Loài thực vật biểu lộ tính dục bằng sự nở rộ các loài hoa khoe sắc hương để nhờ gió hoặc để các loài ong bướm đến thụ phấn cho những nhuỵ hoa. Ở loài động vật, tiếng thú kêu, tiếng chim hót là lời kêu gọi bạn tình. Cho đến loài người, hạt giống, ái dục ngủ ngầm tiềm ẩn bên trong thúc giục thần thức đi vào thai mẹ để rồi có mặt, quay cuồng trong vòng luân hồi sinh tử. Được sinh ra từ sự đam mê sắc dục, được nuôi dưỡng trưởng thành nơi dục cho nên muốn vượt qua nó là một việc rất khó khăn, vì thế Đức Phật nói rằng sắc dục rất mạnh, nó mạnh hơn tất cả các thứ dục và ngài khuyên nhắc để được giải thoát an lạc phải dè dặt đừng để đắm luyến trong sắc dục.
Giáo pháp của Đức Phật đã vạch trần bản chất của sắc tướng là vô thường, nó mong manh phù du, chợt có chợt không như ánh chớp, như hòn bọt, như giọt sương trong sức nóng của mặt trời, không thể nắm bắt được. Bản chất của sắc tướng là vô ngã, nó chỉ là sự tụ hội của nhiều yếu tố, điều kiện mà thành, nếu các yếu tố ấy phân ly thì sắc tướng kia cũng mất. Vì thế, tuy đang hiện hữu đây mà rõ chỉ là tướng hư giả nó theo duyên mà hình thành, theo duyên mà tồn tại, theo duyên mà lụi tàn nên nó không có thực chất.
Bản chất của sắc tướng là nhơ uế. Nhìn lại hình hài một con người để thấy rõ điều này.
Thân người được phủ bên ngoài một lớp da chi chít những lỗ li ti gọi là lỗ chân lông, bên trong là lớp mỡ thịt, đắp vào một khung xương rồi nối liền nhau bởi những sợi gân và lục phủ ngũ tạng chứa đựng đồ nhơ uế như phân, nước tiểu, máu huyết, mồ hôi, đờm, dãi, chảy tràn ra ngoài qua các lỗ chân lông. Mắt tai, mũi, miệng, cửa đại, tiểu. Nếu trong 24 giờ mà không chải răng, súc miệng, tắm rửa thì tự mình cũng không chịu nổi sự hôi dơ nơi mình huống chi là người khác. Thế nên Phật bảo thân người là một túi da hôi thúi, dù tô son trét phấn, áo lụa quần là bao bọc bên ngoài thì thực chất cũng chỉ là túi da hôi thúi mà thôi. Người trí quán chiều sâu sắc để thấy rõ thực chất của sắc thân, để không bị sắc dục nhấn chìm trong biển ái.
Vua Trần Thái Tông, một ông vua thiền sư đời Trần trong bài “Rộng nói về sắc thân” đã nói rõ cái ô uế của thân qua các câu sau.
“Đầu sọ khô cài trâm giắt ngọc, túi da hôi ướp xạ xông hương, cắt lụa là che đậy máu tanh, dồi son phấn át thùng phân thối. Trang sức như thế trọn là gốc nhớp. Không thể nơi đây tự thẹn lại hướng trong ấy mến yêu.”
Ngài sống trong triều đình, trong cung có biết bao cung phi mỹ nữ điểm trang lộng lẫy, giắt ngọc cài hoa, hương xông xạ ướp nhưng ngài thấy rõ tận gốc chỉ là “đầu sọ khô”, “túi da nhớp”, “máu tanh hôi”, “thùng phân thôi”, đâu có gì là mỹ lệ yêu kiều. Trang sức như vậy cũng chỉ để che đậy cái thân bẩn thỉu gớm ghê. Thế mà lại có những kẻ mê muội lại hướng vào đó mà tự hào, yêu mến nó. Thật là không biết hổ thẹn, thật là quá đỗi mê lầm.
Đáng thương vậy. Giọt mật trên lưỡi dao bén không có lỗi, lỗi là do kẻ dại khờ, ngọn đuốt cháy tạt theo hướng gió không có tội, tội là do người ngu muội, sắc thân vốn không lỗi gì, tự nó không có lỗi cũng không có hại.
Lợi hay hại là do người đã sử dụng sắc thân một cách mê si hay trí tuệ. Mê si là nhận thức sai lầm về thân, khởi tâm dục nhiễm nên chuốc tai hoạ sa đoạ trầm luân. Trí tuệ là nhận thức đúng đắn về thân, thấy rõ họa hại của ái dục nên dè dặt không để nó sinh khởi, sử dụng thân như một phương tiện để hành đạo. Ngay nơi thân mà quán chiếu về bất tịnh, vô thường, vô ngã, thoát ly ái dục tiến đến giác ngộ giải thoát. Người học Phật dù là tại gia hay xuất gia đều phải thường tự cảnh tỉnh trước sự quyến rũ của sắc dục, không để nó mê hoặc làm mất phẩm hạnh đạo đức và tinh tấn thực hành lời Phật dạy đoạn tận gốc rễ của ái dục hầu kiến lập một đời sống trong lành, tự tại an vui ngay giữa cuộc đời này.
Nguồn: PGVN
Có người nọ nghe nói về một đạo sư nổi tiếng nên tìm đến hỏi đạo. Đến nơi, anh thấy trong nhà của vị đạo sư trống trơn, chỉ có một cái giường, một cái bàn, một cái ghế và một cuốn sách. Anh ngạc nhiên hỏi: “Sao nhà đạo sư trống trơn, không có đồ đạc gì cả?” Đạo sư hỏi lại: “Thế anh có hành lý gì không?” Anh đáp: “Dạ có một va li”. Đạo sư hỏi: “Sao anh có ít đồ vậy?” Anh đáp: “Vì đi du lịch nên đem ít đồ”. Đạo sư nói: “Tôi cũng là một người du lịch qua cuộc đời này nên không mang theo đồ đạc gì nhiều”. Chúng ta thường quên mất mình chỉ là khách du lịch qua cuộc đời này, lầm tưởng mình sẽ ở mãi nơi đây, nên tham lam, ôm đồm, tích trữ quá nhiều đồ vật, tài sản. Đàn bà thì chất chứa quần áo, vòng vàng, nữ trang. Đàn ông thì máy móc, xe hơi, tivi, máy điện tử.
Mỗi khi có sự tranh chấp, buồn phiền, chúng ta thường có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác. Sau đây là ba trường hợp: a. Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng và người kia lỗi 100%. b.Người bắt đầu học đạo, biết tu thì thấy cả hai bên đều có lỗi 50%. Người hiểu đạo thì thấy mình lỗi 100%.
Do vô minh và chấp ngã quá lớn, cho mình là người quan trọng nhất, nghĩ cái gì cũng phải, cũng đúng, nên xảy ra chuyện gì trái ý cái ngã (cái ta) thì tức giận bắt lỗi người khác. Thí dụ một chuyện thật xảy ra ở Hoa Kỳ, có một bà già vào mua cà phê tại tiệm Starbucks, không biết vì lý do gì, bà uống ly cà phê bị phỏng miệng. Thế là bà nổi giận làm đơn kiện tiệm này đã bán cho bà ly cà phê quá nóng khiến bà bị phỏng miệng và đòi bồi thường hai triệu đô la. Bà ta không thấy lỗi mình là khi cầm ly cà phê lên, nếu thấy nóng thì phải biết thổi cho nó nguội rồi mới uống, đàng này có thể vì tham ăn, tham uống, thấy ly cà phê bốc mùi thơm phức, mờ mắt húp cái ực nên bị phỏng miệng. Trong khi đó biết bao nhiêu người khác uống đâu có bị phỏng? Không những không biết lỗi mình mà còn đi kiện người ta! Một chuyện khác có thật cũng xảy ra tại Hoa Kỳ. Một ông nọ đưa bộ đồ vét (veste, suit) đến một tiệm giặt ủi. Khi lấy bộ đồ về thì nhận ra cái quần không phải của mình. Ông đem trả lại tiệm và khiếu nại. Khoảng một tuần sau, chủ tiệm đưa cho ông một quần khác, nhưng ông vẫn không công nhận là quần của ông. Thế rồi ông làm đơn kiện tiệm giặt ủi. Chủ tiệm đề nghị bồi thường ông 12.000 đô la nhưng ông không chịu mà đòi 54 triệu. Đương nhiên là quan tòa đã bác đơn của ông ta.

Ở đây nói 50% là nói tượng trưng, vì có thể là 40% và 60%, hoặc 30% và 70%, hoặc 20% và 80%, v.v… Khi xảy ra một sự tranh chấp, cãi nhau thì đương nhiên phải có một người bắt đầu. Thí dụ như ông A và bà B cãi nhau. Ông A là người bắt đầu, nhưng nếu bà B im lặng bỏ đi, không chửi lại thì ông A không thể đứng đó chửi mãi. Nhưng nếu ông A nói một câu và bà B nói lại hai câu thì ông A sẽ tức lên nói ba câu hoặc năm, sáu câu liên tiếp. Và nếu bà B không biết ngừng thì cuộc cãi nhau sẽ leo thang. Nếu bà B biết ngừng thì cuộc khẩu chiến sẽ chấm dứt. Nhưng sau đó cả hai bên đều mang vết thương lòng và hận nhau. Về nhà, nếu bà B là 12 Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy số 28 (tháng 3) theo phattuvietnam.net người hiểu đạo thì sẽ nhận ra mình cũng có lỗi trong chuyện cãi nhau, và nếu nhận ra mình có lỗi 40% thì cơn giận của bà sẽ giảm xuống 40%. Nếu bà B nhận ra mình có lỗi 60% thì cơn giận của bà sẽ hạ xuống 60%.
Trong một cuộc tranh chấp mà thấy mình lỗi 100% thì coi bộ lỗ quá. Nhưng nếu hiểu đạo, đạo ở đây là luật nhân quả và nhân duyên thì biết là không thể nào tự nhiên vô cớ mà người kia lại gây sự với mình. Có thể mình đã nói hoặc đã làm điều gì tổn thương người ta mà mình không nhớ. Và nếu xét cho kỹ mà vẫn không thấy mình làm gì sai quấy thì có thể đời trước, hay nhiều kiếp trước mình đã não hại người ta, nên bây giờ họ gặp lại mình thì gây sự, kiếm chuyện trả thù. Thấy mình lỗi đã là quý, nhưng nếu biết xin lỗi thì càng quý hơn vì có thể giải tỏa ân oán và oan gia. Hạnh phúc xả ly Ở đời người ta thường cho hạnh phúc là có được cái này, cái kia: Có nhà lầu, xe hơi, có vợ đẹp, con ngoan, có tài sản, quyền thế, v.v… Khi chưa có thì muốn có, làm đủ mọi cách để cho có. Có rồi thì sợ mất hoặc xem thường rồi lại muốn có cái khác. Nếu không được thì buồn phiền, bất mãn, khổ sở. Người biết tu thì thấy “không có” là một hạnh phúc. Không có ở đây là do trí tuệ quán chiếu thấy mọi sự phiền toái đều do ham muốn mà ra. Bởi thế người tu không muốn có, nếu đã có rồi thì tập xả ly. Vì những thứ “có” trên thế gian này đều là ràng buộc. Tuy nhiên, đối với những người chưa có, chưa thỏa mãn được những mong ước, thèm khát, còn mải mê chạy theo vật chất thì xả ly là một việc thật khó làm, vì họ chưa có thì lấy gì mà xả bỏ. Ðức Phật khi còn là thái tử đã có vợ con, vàng bạc, của cải, cung phi mỹ nữ, đầy đủ vật chất mà trong lòng vẫn nặng trĩu âu lo, không cảm thấy hạnh phúc. Do đó, Ngài mới xả bỏ ra đi tìm chân lý, tìm hạnh phúc chân thật. Trong khi đó có những người tu lại chạy theo vật chất, của cải, tài sản, danh lợi bởi vì trong đời họ chưa được thỏa mãn, chưa cảm thấy có đầy đủ. Chỉ khi nào có được rồi và trải qua kinh nghiệm thấy những thứ mà họ đã nhọc công tìm kiếm chỉ đem lại phiền toái và khổ đau thì lúc đó ý nghĩ xả ly mới xuất hiện. Trước hết, có thân thì phải lo cho thân ăn, mặc, ở, sống. Phải đi làm kiếm ăn, phải mua quần áo mặc, phải thuê nhà ở tránh mưa nắng. Khi thân đau ốm phải lo thuốc men, chạy chữa. Nếu có gia đình thì phải lo làm ăn buôn bán kiếm tiền nuôi vợ con. Suốt ngày chỉ lo suy nghĩ và làm đủ mọi chuyện cho cái ta và những thứ của ta. Hạnh phúc xả ly tương đương với thiểu dục tri túc, có nghĩa là tâm không ham muốn,và luôn cảm thấy đầy đủ dù trong tay không có gì hết. Với người tu, không có sở hữu gì thật là một hạnh phúc. Nói như vậy có vẻ ngược đời, nhưng người tu là kẻ đi ngược dòng đời kia mà! Xả ly giống như người đang mang gánh nặng trên vai mà đi, nay bỏ được gánh nặng xuống thì cảm thấy nhẹ nhàng sung sướng vô cùng.
Người tu cần tập xả ly, vì xả nhiều chừng nào thì nhẹ chừng nấy. Xả ly không có nghĩa là phải vứt bỏ hết tài sản, của cải đang có. Xả ly trước hết là xả bỏ sự ham muốn và buồn giận trong tâm, kế đến là xả bỏ sự bám víu vật chất bên ngoài. Tuy sống giữa tài sản, vật chất, nhưng tâm không còn nhớ nghĩ những thứ đó là của ta, nếu có ai xin hoặc mất thì xem như nhẹ gánh nặng. Tập xả ly tới mức cùng cực thì khi chết, ta xem như trút hết gánh nặng, nhất là cái thân tứ đại già yếu, bệnh hoạn. Ta đã phải mang nó trên vai suốt cả cuộc đời, nay bỏ được nó, há không phải là sung sướng lắm sao?
Vì thế các thiền sư đắc đạo, khi chết đều vui vẻ an nhiên tự tại ra đi. Khi đói thì ta thèm ăn, nhưng khi ăn thì đòi thứ này thứ kia rồi ăn cho cố, đau bụng, nặng bụng, khó thở. Khi khát thì thèm uống, nhưng khi uống thì thích những thứ độc hại như rượu bia, rồi say mèm, ói mửa. Nhiều khi sinh ra ung thư hay sưng gan. Người tu là người đi tìm hạnh phúc chân thật, hạnh phúc này chỉ có khi tâm không còn bám víu, dính mắc, thèm khát mọi sự vật trên đời này. Như vậy, hạnh phúc chính là sự giải thoát của tâm ý. Và muốn có giải thoát thì phải tập xả ly. Hãy nhìn vào tự tâm, xem mình còn bám víu, dính mắc, ưa ghét cái gì không? Có người xả bỏ được vợ con nhưng lại dính mắc vào chùa chiền, xả bỏ được tài sản nhưng lại dính mắc vào danh lợi, địa vị. Xả bỏ được cái này nhưng rồi lại dính mắc vào cái khác!.
Nguồn: PGVN
Một mùa an cư kiết hạ vừa trở về trong bao nổi hân hoan chờ đón của tất cả tăng ni Phật tử. Đây là ba tháng chuyên tu tăng tuổi đạo trao dồi hạnh đức mà bất cứ một người tu hành nào cũng đều phải trải qua. Hàng Phật tử tại gia xem đây là thời gian để dâng cúng những gì tốt đẹp nhất lên Tam Bảo mong nhờ sức tu trì của quý tăng ni hòng mang thêm chút duyên lành.
Là Phật tử, cúng dường tam bảo vừa là một phước ân, vừa là một nghĩa vụ. Tất cả đều ở tâm tùy hủy không phân biệt, không chỉ là cúng dường tịnh tài tịnh vật chu toàn đời sống quý vị xuất gia còn là những nhu yếu phẩm cần thiết khác để xây dựng nên đạo tràng. Phật tử cứ tùy tâm, nếu không cũng có thể góp sức làm Phật sự, công quả, nấu cơm, phát quà, dọn dẹp bổn tự, bảo vệ chùa chiền. Đó đều là những hạnh cao cả tốt đẹp của tứ chúng đồng tu.

Thông thường nghĩ đến cúng dường tam bảo, mọi người đều nghĩ ngay đến cúng tiền, gạo, mỳ gói, dầu ăn, đường, hoa quả, trái cây, rau củ, bột ngọt, xà phòng, nhang, đèn. Nếu chùa có xây dựng sẽ cúng dường những vật liệu hay công sức góp vào. Mùa an cư kiết hạ hay những lễ cúng trai tăng, ngoài tịnh tài thường luôn kèm khăn, kem đánh răng, bàn chải đánh răng, tập viết, đặc biệt là y áo. Một số vận động cúng kinh sách, tượng, tranh ảnh, băng đĩa, hùn phước phóng sanh, phát cơm từ thiện. Tất cả đều là những việc làm tốt đẹp thể hiện hạnh lành của người Phật tử.
Những việc cúng dường cứ thế tiếp diễn, năm nọ tháng kia gần như không có gì thay đổi dù đời sống ngày càng hiện đại. Một số Phật tử thân cận với chùa mới biết chùa cần gì để cúng những thứ cần thiết. Tuy nhiên, đa phần Phật tử chỉ cúng như thông lệ, gần như không biết những thứ mình cúng có cần thiết cho chùa hoặc chùa đang cần gì. Quý tăng ni với tâm không biệt, không đòi hỏi nên Phật tử cúng gì nhận đó và cũng ngại góp ý với Phật tử sợ sẽ bị hiểu lầm người xuất gia đòi hỏi, yêu sách Phật tử.
Tuy nhiên, nếu quý Phật tử đi sâu nhìn vào bổn tự sẽ thấy quý tăng ni hiện bị bệnh rất nhiều, nhất là các bệnh như tiểu đường, cao huyết áp, đau nhức, cao mỡ trong máu và béo phì. Đây thường là những bệnh dành cho người ở ngoài với đời sống sung túc, ăn uống dư thừa, đặc biệt là các thực phẩm đồ hộp, đồ ăn nhanh đầy chất béo đường. Người xuất gia ăn chay thanh đạm thế tại sao lại bị bệnh này quá nhiều? Có nhiều nguyên nhân nhưng cốt tủy ở chế độ dinh dưỡng thiếu đúng đắn.
Theo thống kê ở Thái Lan, bệnh béo phì và nguy cơ bị tiểu đường ở các nhà sư là khoảng gần 50% dù các nhà sư chỉ ăn một bữa trước ngọ. Đó cũng là do các thực phẩm cúng dường toàn chất ngọt béo cùng với việc uống các loại nước ngọt, nước tăng lực như bò húc để tăng sức khỏe nhưng thật sự đó là những loại nước có chất kích thích.Thêm vào đó, với sự thiếu vận động thể dục thể thao, thiếu kiến thức về sức khỏe, dinh dưỡng, tình trạng bệnh xảy ra ở giới xuất gia rất nhiều, không chỉ ở Thái Lan mà ở các quốc gia khác cũng vậy.
Thế còn ở Việt Nam thì sao? Dù chưa có một cuộc nghiên cứu chính xác nhưng con số này chắc không hề thấp, dù là chùa có được cúng dường đầy đủ, sung túc hay thiếu kém, tình trạng cũng không khá hơn. Hãy thử nhìn vào những bữa ăn ở chùa quý vị sẽ thấy. Ba bữa ăn đều là cơm trắng, một ít canh, một ít rau, đậu hủ có thể kho hay chiên, khá hơn có thể thêm nấm, một chút trái cây.
Ở các bữa cúng trai tăng hay trai phạm, húy kỵ, lễ tết giỗ chạp có thể khá hơn, đồ ăn nhiều hơn, thay cơm bằng bánh mỳ, bún, phở, bánh trái rất nhiều. Nhìn có vẻ rất sung túc, rất ngon. Tuy nhiên, tất cả đều là những loại thức ăn quá nhiều chất đường, nhiều tinh bột, nhiều dầu mỡ, dư thừa năng lượng trong khi các loại khoáng chất, vitamin, chất đạm đều bị thiếu trầm trọng.
Có chùa Phật tử cúng quá nhiều gạo trắng không có chỗ chứa dẫn đến hư mốc, phải mang đi cúng dường các nơi. Rau quả có khi Phật tử gởi cúng về đã hư thối, rất nhiều chùa không có điều kiện để giữ lạnh rau củ quả nên dẫn đến hư mục, lên mốc, gây hôi thối cho chùa, cho người nấu ăn và quý tăng ni phải ăn đồ hư thiu như vậy.
Dầu ăn được cúng dường cho chùa không phải tất cả đều là dầu tốt, dầu có nhiều thành phần chất béo không no để bảo vệ tim mạch. Ở chùa khi nấu ăn, vì chiên xào quá nhiều và chiên đến lúc hết dầu, sử dụng dầu trở lại ngày nọ tháng kia làm cho các độc chất từ dầu đi vào tim mạch gây cao mỡ trong máu, nghẽn tim, nhồi máu cơ tim.
Ở các chùa thôn quê, chùa ở miền núi, không có khả năng đi chợ, gần nơi có thể có thực phẩm nên đồ ăn cứ kho chiên ngày nọ tháng kia đến khi nào hết mới thôi. Vì vậy đồ ăn rất mặn, không còn dinh dưỡng, các loại dầu đã chuyển thành độc chất, dù biết vậy nhưng đành nhắm mắt để ăn với cơm hay chút rau luộc qua ngày.
Có chùa vì không đủ nhân lực để lo tam bảo nói chi đến việc cơm nước nên thay bằng mì gói cho bữa sáng hoặc dùng mì gói nấu làm canh ăn với cơm. Vả lại cứ mỗi khi quý Phật tử đến cúng chùa đều luôn mang cúng mỳ gói nên phải tìm cách tiêu thụ. Tuy nhiên, mỳ gói với quá nhiều chất bảo quản, nhiều lớp dầu bám thấm bên ngoài hay trong gói gia vị toàn bột ngọt, chất béo sẽ gây bệnh trầm trọng thêm.
Các loại nước uống hiện nay cũng là một phần gây bệnh rất nhiều. Nhiều quý tăng ni sử dụng nước ngọt, các loại nước ép đóng chai công nghiệp chỉ có hương liệu trái cây nhưng toàn đường hóa học, các loại nước tăng lực nhưng thật sự là có chất kích thích chỉ toàn đường, gây béo phì và tiểu đường rất cao. Ở các buổi lễ thay bằng các loại nước pha trái cây nhiều đường, các loại chè, chè Thái, nước viên sủi bọt đầy đường. Nhiều quý Phật tử vì thương quý thầy và đa phần với tâm lý chung của người Việt, cái gì nhiều tiền đều là tốt nên thay bằng nước yến, nước lon, nước sâm. Tuy nhiên, dinh dưỡng trong các loại nước này rất thấp, chỉ đa phần toàn đường với các loại năng lượng vô ích chỉ làm tăng bệnh tăng cân mà thôi.
Tôi có dịp xem khá nhiều hồ sơ bệnh án của quý tăng ni, đến chùa tư vấn trực tiếp, kể cả trên mạng, gần gũi với các chùa, tìm hiểu đời sống ở chùa cùng nhiều sự suy tư của các vị xuất gia, tôi rất chạnh lòng. Tôi đã cúng dường thuốc cũng như rất hoan hỷ sẵn sàng tư vấn bệnh cho quý Ngài mọi lúc mọi nơi trong nhiều năm qua. Khi về Việt Nam, tôi đều cố gắng đến chùa tự phát tâm xin được giảng nói về dinh dưỡng sức khỏe, khám bệnh trả lời trực tiếp. Tuy nhiên, đó chỉ là những việc bé nhỏ không đáng và tất cả lại đâu trở vào đấy. Nguyên gốc của vấn đề ở chế độ dinh dưỡng, vận động, vệ sinh môi trường nhưng chỉ biết lặng nhìn vì không biết phải làm sao.
Là một Phật tử, cũng là một thầy thuốc, tôi luôn hoan hỷ làm những điều cần thiết và luôn cầu mong cho tất cả quý tăng ni Phật tử đều khỏe an để phụng sự tam bảo. Đó là ân phước của tôi và tôi tin quý vị cũng như tôi vậy. Xin cho tôi được góp ý thành tâm về một số vấn đề quý Phật tử nên cúng dường những nhu yếu phẩm nào cần thiết cho chùa để giữ gìn sức khỏe cho quý tăng ni, tránh cúng dường thừa gây hư hao, lãng phí. Xin quý vị hoan hỷ thứ tha nếu như có điều gì không đúng hoặc chưa thực tế với đời sống của người Việt Nam.

Thực phẩm xanh và sạch gần như không chỉ thiếu ở chùa mà trong các gia đình Phật tử Việt Nam. Tuy nhiên, khi cúng dường chùa, chúng ta nên cúng loại rau quả còn tươi, sạch, có thể nấu dùng được hay dự trữ được một vài hôm nếu có thể. Rau quả xanh cung cấp rất nhiều chất xơ, chất khoáng, vitamin, tăng khả năng đề kháng. Tất cả mọi loại rau quả đều là cần thiết. Một số loại rau củ cần thiết giàu dinh dưỡng, chất đạm như đậu que, đậu đũa, bông cải xanh, rau lang, đập bắp và các loại rau luộc. Nếu quý tăng ni ăn kiêng sẽ dễ dàng hơn khi ăn nhiều rau đậu thay cho ăn cơm.
Yến mạch là một loại thực phẩm tốt nhất theo tổ chức y tế thế giới. Trong yến mạch có hàm lượng các loại chất dinh dưỡng, chất đạm, chất khoáng, sắt, ít chất béo, các loại chất xơ cần thiết cho cơ thể. Đây có thể là thực phẩm lý tưởng cho những người bị bệnh tiểu đường, cao huyết áp, cao mỡ trong máu hay bất cứ mọi người để ngăn ngừa bệnh.
Thật ra hai loại thực phẩm chay tốt nhất thế giới chính là đậu nành và diêm mạch. Lý do tôi khuyên cúng và dùng yến mạch bởi vì diêm mạch không phổ biến ở Việt Nam, khó nấu hay mất thời gian hơn. Đậu nành là thực phẩm rất tốt nhưng nhiều người không thể sử dụng đậu nành thay cơm.
Yến mạch giá không cao và đã được mang về Việt Nam bán khá nhiều. Yến mạch có thể thay cho cơm hoặc ăn bữa sáng. Nấu yến mạch rất nhanh, chỉ vài phút hoặc có thể dùng lò vi sóng để nấu rất tiện lợi. Mỗi lần sử dụng không nhiều và có thể dùng được lâu.
Bột ngũ cốc nguyên chất hay các sản phẩm từ các loại hạt đậu nành nên được dâng cúng hay sử dụng. Quý tăng ni nên sử dụng thêm bột ngũ cốc để tăng cường chất đạm và các loại dinh dưỡng khác. Các loại sữa không đường từ đậu nành, sản phẩm từ đậu nành nên sử dụng vì đậu nành là thực phẩm chay tốt nhất và duy nhất cung cấp đầy đủ các loại amino acid cần thiết tái tạo chất đạm. Đậu nành không hề gây ra các loại bệnh hay làm tăng bệnh ung thư vú, ung thư tuyến liền liệt như nhiều người lầm tưởng mà bảo vệ các loại bệnh này.
Do đó, thay vì chỉ cúng gạo trắng, mỳ gói quá nhiều hay các loại sâm yến quá đắt tiền không mang lại dinh dưỡng dài lâu, quý vị nên thay bằng cúng gạo lứt và yến mạch, ngũ cốc, sữa bột, sữa đậu nành không đường sẽ giúp tăng cường sức khỏe, tránh lãng phí. Tôi đã cúng dường yến mạch cho quý tăng ni nhiều năm qua, đặc biệt là ở các chùa trên núi và quý tăng ni rất thích, ăn vào đỡ bệnh. Tôi cũng khuyến khích quý tăng ni nên sử dụng yến mạch và ngũ cốc nhiều hơn. Người Mỹ thường dùng yến mạch vào buổi sáng còn tôi sử dụng yến mạch cả ngày thay cơm.
Thực phẩm chay gần như không có vitamin B12. Vitamin B12 rất quan trọng để tái tạo hồng huyết cầu, bảo vệ sức khỏe của não, tổng hợp thông tin di truyền DNA, giảm bệnh mất trí, giúp quá trình trao đổi chất tốt hơn. Về thuốc men các loại bệnh phải đến gặp bác sĩ. Tuy nhiên, quý vị có thể cúng dường cho chùa Vitamin B12, viên uống hay viên ngậm đều được và tôi khuyên tất cả những người ăn chay đều nên sử dụng vitamin B12. Liều lượng có thể 1000mcg mỗi ngày hay 5000mcg mỗi tuần, tùy sự thiếu hụt khi kiểm tra.
Đồ ăn chay cũng không nhiều chất sắt. Quý thầy có thể không bị thiếu hụt về sắt nhiều như quý cô bởi vì người nữ phải mang chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng bị mất máu gây mất sắt. Khi mệt mỏi hoặc khám sức khỏe nếu thiếu máu nên yêu cầu bác sĩ kiểm tra sắt, folate và vitamin B12. Nếu không thể kiểm tra có thể uống viên sắt mỗi ngày trong khi hành kinh và ba lần mỗi tuần. Tôi khuyên nên kiểm tra lượng sắt vì nếu lượng sắt quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và các cơ quan khác.
Với những tăng ni bị suy nhược, quý vị có thể cúng các loại thuốc bổ tổng hợp multivitamin, hoặc nếu đau nhức có thể cúng canxi +vitamin D, glucosamine đều được. Tuy nhiên, quý tăng ni nên kiểm tra xét nghiệm sức khỏe định kỳ
Vì quý tăng ni bệnh tim mạch và lượng mỡ trong máu, hàm lượng triglyceride khá cao do sử dụng tinh bột nên cần sử dụng viên Omega 3. Rất nhiều các sản phẩm Omega 3 là chiết xuất từ các loại cá, dầu cá hồi hoặc tổng hợp. Nhiều khi chúng ta không để ý khi cúng, sử dụng cũng không sao. Tuy nhiên, vì quý tăng ni ăn chay tu hành, quý vị nên chọn cúng loại Omega 3 chay như là từ hạt lanh Flaxseed Oil. Bơ hay các loại hạt điều, óc chó, hạnh nhân, đậu, hạt chia, bí đao đều có rất nhiều Omega 3.
Quý vị nên hỏi ở chùa có thiếu gạo không và nên chọn gạo tốt để cúng. Thay vì chỉ cúng gạo trắng, quý vị nên cúng thay với gạo lứt vì có thêm dinh dưỡng, có chất xơ, các loại vitamin, ít đường. Ở chùa cũng nên luân phiên thay các bữa nấu với gạo lứt để giảm bệnh. Với người bị bệnh tiểu đường cần phải hạn chế ăn cơm trắng, bánh mỳ, phở, bún.
Khi chọn các loại dầu ăn, quý vị nên chọn cúng các loại dầu tốt như dầu mè, dầu nành, dầu Olive, dầu Canola, các loại dầu có hàm lượng chất béo không no cao như polyunsaturated fat hay monounsaturated fat. Quý vị nên nhìn vào nhãn thực phẩm để chọn dầu. Không nên chọn các loại dầu hay các loại thức ăn có trans fat vì đây là các loại chất béo cực độc gây bệnh cho cơ thể. Không nên chiên dầu ở nhiệt độ cao, nhất là dầu Olive rất dễ cháy khi chiên. Không nên sử dụng dầu chiên quá hai lần hay sử dụng khi dầu bị đục vì dầu sẽ chuyển thành độc chất gây hại cho cơ thể. Nên hạn chế các loại thức ăn chiên xào quá nhiều.
Thường trong các lễ cúng trai tăng, ngoài cúng tịnh tài đều có một món quà khác như dâng y, các đồ dùng khác như vải, kem đánh răng, bàn chải đánh răng, tập viết để làm quà, vừa nhìn trang trọng, đẹp mắt. Trên mạng tôi thường thấy có rất nhiều bạn kêu gọi hùn phước dâng y, từ vài chục, thậm chí vài trăm y cho các trường hạ. Mùa an cư kiết hạ thì không thể nào thiếu việc dâng y.
Nếu ở các chùa ít cúng trai tăng hay thiếu kém, điều này là hợp lý. Tuy nhiên, ở các chùa hay các nơi thường xuyên cúng trai tăng dâng y, những vật dụng này trở nên thừa. Có vị nói với tôi sau mùa an cư không biết mang đi đâu để tặng bớt vải vóc, các vật dụng khác nêu trên vì cả chùa ai cũng thừa đầy, có khi tặng lại cho Phật tử. Tuy nhiên, vải y của người xuất gia không biết mang đi đâu ngoài tặng cho các chùa ở xa hay nghèo. Chưa kể hiện nay, vải vóc rất tốt, đâu dễ hư rách như ngày xưa.
Ngày xưa khi thấy các cô trên núi không có vải y tốt, lại thường xuyên lao động nên tôi phát tâm cúng y hàng năm mà không hỏi ý. Tuy nhiên chừng hai ba năm, tôi thật sự không biết liệu các cô có thật sự cần y áo không nên hỏi trực tiếp. Các cô đều bảo rằng thiếu nhất là không có tịnh tài để có thể chi dùng cho cuộc sống, khám chữa bệnh chứ y áo không thiếu vì không hư. Tôi cũng nghĩ vậy và từ đó chỉ cúng tịnh tài, dù không nhiều nhưng tôi nghĩ đó là thực tế hơn.
Vì vậy tôi nghĩ quý vị khi phát tâm cúng gì cho chùa nên tìm hiểu hoặc hỏi xem quý tăng ni cần gì để cúng như thế cả hai đều vui hơn chỉ cúng thứ mình cần cúng gây dư thừa không uổng phí vô cùng. Có thể tôi hơi thực tế nhưng có lẽ cúng tịnh tài, các loại thực phẩm thuốc men cần thiết là dễ sử dụng và tốt nhất vì rất nhiều quý tăng ni hiện nay bị bệnh nhưng không có tịnh tài để chữa bệnh hay mua thực phẩm ăn uống giữ sức khỏe.
Bột ngọt không tốt, thường gây ra các bệnh dị ứng, đau nhức, mệt mỏi, nóng bức, khó tiêu, nhất là ở những người bị bệnh tim mạch hay bệnh gan hoặc ở người lớn tuổi. Tuy nhiên, các chùa cũng hay dùng và Phật tử thay vì cúng các loại bột nêm nấm thay thế đều mang cúng bột ngọt rất nhiều. Các loại nước tương được cúng cho chùa không phải đều là loại nước tương chọn lọc, ít muối, ít chất nêm, có khi là nước tương lít, nước tương không rõ nguồn gốc. Chao và tương nếu quá nhiều muối quá mặn cũng chính là nguyên nhân gây ra các bệnh cao huyết áp và tim mạch cho người xuất gia.
Không nên cúng bột ngọt cho chùa và quý vị cũng không nên sử dụng bột ngọt rất dễ gây bệnh. Quý vị nên thay bằng các loại hạt nêm chiết xuất từ rau của quả hay nấm. Không phải các loại hạt nêm này là không có thành phần của bột ngọt nhưng thấp hơn, ít gây bệnh và tiêu hóa dễ dàng hơn. Quý vị cúng ít nhưng chùa có thể sử dụng và an toàn vẫn tốt hơn.
Quý vị nên hạn chế hoặc chọn các loại mỳ ít có thành phần chất béo, các gói hạt nêm không tốt. Thay vì cúng mỳ gói, quý vị cúng ngũ cốc, các loại hạt có chất đạm như đậu nành, bột đậu nành, đậu xanh, hạt điều hay các loại bột ngũ cốc khô để có thêm chất đạm.
Đường tinh luyện trắng nhìn rất đẹp, có thể để dùng nấu một số loại thức ăn không làm ảnh hưởng màu sắc nhưng hạn chế. Đường nâu nguyên chất chưa bị tinh luyện qua hóa chất an toàn hơn, hương vị khi nấu cũng ngọt ngào thơm ngon hơn. Tuy nhiên, nên hạn chế nấu hay sử dụng các loại đồ ăn quá ngọt và hạn chế đồ béo ngọt.
Các loại món ăn Việt Nam, chè, cà ri, bánh trái đều bỏ rất nhiều nước cốt dừa hay sợi dừa. Nước dừa tươi rất tốt và ngon. Tuy nhiên, nước cốt dừa chỉ toàn là chất béo no rất dễ gây bệnh tim mạch, cao mỡ trong máu. Do đó nên hạn chế sử dụng nước cốt dừa.
Nên hạn chế và tốt nhất không nên cúng dường các loại nước ngọt. Thành phần nước ngọt, nước tăng lực với một số chất kích thích hay hàm lượng đường rất cao rất không tốt cho sức khỏe, dễ gây nghiện, tạo thói quen. Trong các loại nước ngọt như Coca Cola có hàm lượng caffeine như trong cà phê dễ gây mất nước, khó ngủ, kích thích tim mạch. Nước ngọt cung cấp năng lượng thừa gây béo phì. Kể cả nước yến, quý vị cũng nên hạn chế đừng nên lạm dụng. Thay vào đó, nên uống nước lọc, cúng hoa quả tươi, các viên vitamin C sủi bọt để uống tăng sức khỏe. Nếu được nên giúp chùa có hệ thống lọc nước sạch, khử kim loại nặng, khử mùi để sử dụng an toàn.
Thuốc lá vô cùng độc hại, tàn phá cơ thể vì chứa hơn 4000 hóa chất gây đủ các loại bệnh cho cơ thể. Một số quý tăng sĩ vẫn còn hút thuốc và tôi luôn khuyên các vị nên hạn chế dẫn đến bỏ thuốc lá. Là Phật tử, nhất thiết chúng ta không nên cúng dường thuốc lá cho chùa vì chính là tiếp tay gây bệnh.
Khi cúng dường nhang, quý vị cũng nên chọn loại nhang ít tổng hợp và không có hóa chất, nhang nhỏ hay nhang hương liệu tự nhiên. Khói nhang rất độc, đặc biệt là các loại nhang tổng hợp, các loại nhang đủ mùi tổng hợp với nhiều độc chất có thể gây ra dị ứng, các bệnh về phổi và ung thư. Nên hạn chế đốt quá nhiều nhang hay ngửi quá nhiều hương nhang.
Là Phật tử luôn được giảng dạy hay đọc sách chỉ dẫn cúng dường kinh sách băng đĩa, hay cúng dường pháp công đức vô lượng. Tôi nghĩ thời Đức Phật ngày xưa việc in chép ấn tống kinh sách quá khó khăn nên rất cần những người phát tâm ấn tống. Tuy nhiên hiện nay, chỉ cần lên mạng không thiếu thứ gì. Kinh sách đều có đầy hết các cửa hàng, nhà sách. Tượng Phật, pháp bảo mọi chủng loại của nhiều nước đầy khắp không thiếu gì cả. Có nơi phát miễn phí rất nhiều băng đĩa, Phật tử mang về để ở nhà không buồn mở ra hay pháp bảo đầy nhà không chỗ chứa.
Trừ ở các vùng sâu, vùng xa hay một số người nghèo thiếu khả năng có thể cần thêm pháp bảo. Tôi nghĩ hiện nay pháp bảo đến dư thừa. Mùa an cư Phật tử hăm hở làm phát tặng hàng ngàn, hàng chục ngàn tượng Phật lớn nhỏ, kinh sách in ấn đến đầy xe chở khắp các chùa dù chùa không có chỗ chứa. Tất cả đều ở sự thành tâm. Có quý vị tăng ni còn nói với tôi mới cản hôm trước hôm sau đã có cả một xe kinh sách, phát tặng Phật tử rồi lâu lâu Phật tử mang trở lại cúng chùa rất buồn cười.
Tôi nghĩ nếu được chúng ta cũng nên tìm hiểu nơi chùa, đạo tràng, trường Phật học mình muốn đến cúng hiện đang cần gì, có thiếu kinh sách gì thay cho việc chúng ta chỉ cúng những gì chúng ta muốn trong khi nhu cầu của chùa không có. Thay vào đó, tiền để ấn tống pháp bảo tượng không cần thiết chúng ta cũng có thể góp với chùa để chỉnh trang nhà ăn, nhà vệ sinh được sạch sẽ, thay thế chén bát, xoong chảo nấu nướng ở chùa, sửa chữa bàn ghế hư hỏng, hùn phước cho các vị tăng ni khám chữa bệnh, xét nghiệm, giữ sức khỏe sẽ thiết thực hữu hiệu hơn.
Nếu quý vị thích cúng sách, pháp bảo, quý vị có thể cúng dường hay làm thêm những sách Phật giáo cho trẻ em, tặng cho các cháu nhỏ, xây dựng thư viện kinh sách, phòng đọc sách ở chùa để các Phật tử, kể cả các cháu nhỏ đều có nơi tìm đến nghiên cứu, học hỏi.
Cúng dường tam bảo là một việc làm cao đẹp và là bổn phận của Phật tử để đắp bồi dựng xây tam bảo. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên tùy theo hoàn cảnh, thời thế, tùy theo nhu cầu thiết yếu của từng chùa để phương tiện cúng dường cho hợp lý và hiệu quả để những vật lực và sức lực của mình được sử dụng trong sự hoan hỷ, vui vẻ, tránh lãng phí dư thừa. Nếu chúng ta cúng dường đúng đắn, nhất là các vật thực hằng ngày sẽ giúp bảo vệ sức khỏe cho quý tăng ni, tránh thêm nhiều vấn đề và chi phí phát sinh về sau càng thêm sầu khổ.
Cầu chúc cho tất cả các bạn cùng gia đình thêm nhiều phước duyên, tinh tấn tu hành, mãi luôn khỏe an. Nguyện cầu cho tất cả quý tăng ni một mùa an cư kiết hạ đầy hùng lực tu hành để thêm một tuôi hạ viên mãn.
Nguồn: Linh Sơn Phật Giáo